vanban.org

Bản án 50/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 01/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vừ Lao P phạm tội Hủy hoại rừng.

Xử phạ t bị cáo Vừ Lao P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo . Thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ Lao P - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vừ Lao P phạm tội Hủy hoại rừng.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN YÊN CHÂU

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 50/2019/HS-ST

Ngày 04-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Sửu và bà Mùa Thị Mỷ.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải, thư ký Toà án nhân dân huyện Yên

Châu, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà

Nguyễ n Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh

Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm

2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10

năm 2019 đối với bị cáo:

Vừ Lao P, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1987 tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nơi

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp:

Trồng trọt; trình độ văn hóa (Học vấn): Lớp 0/12; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam;

tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Vừ Lao C, sinh năm 1962 (đã

chết) và bà Vừ Thị L, sinh năm 1965. Bị cáo có vợ: Mùa Thị K, sinh năm 1980; bị cáo

có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự:

Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2019 cho

đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cộng đồng bản K, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Người đại diện: Ông

Thào Lao D, sinh năm 1987. Chức vụ: Trưởng bản. Trú tại: Bản K, xã M, huyện Y, tỉnh

Sơn La.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Vừ Lao C, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Yên Châu, tỉnh

Sơn La.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc

Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu đất để sản xuất nên Vừ Lao P đến khu vực

giáp ranh rừng Chua Đá thuộc bản K, xã M, huyện Yên Châu làm chăn nuôi gia súc từ năm 2007 đến nay, quá trình chăn nuôi Vừ Lao P phát hiện cách lán của Vừ Lao P khoảng 300m trong khu vực “Chua Đá” là rừng phòng hộ đầu nguồn do cộng đồng bản K, xã M, huyện Yên Châu quản lý, bảo vệ có thể canh tác nông nghiệp. Giữa tháng 2/2019 do muốn có thêm đất để sản xuất nên một mình Vừ Lao P đã dùng dao quắm của gia đình chặt phá các cây gỗ nhỏ, cây bụi tại khu rừng kể trên trong thời gian 02 ngày. Hai ngày tiếp theo, Vừ Lao P mang theo máy cưa cầm tay do Vừ Lao P mượn của Vừ Lao C - Sinh năm: 1967, Trú tại: Bản K, xã M, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La từ tháng 12/2018 để sửa nhà tiếp tục dùng máy cưa, cưa đổ các cây gỗ có đường kính từ 10cm đến 25cm với mục đích để khô mang về làm củi và đốt để lấy đất trồng dưa và rau cho lợn ăn. Trong thời gian 04 ngày Vừ Lao P đã chặt phá 8.150m2 rừng phòng hộ đầu nguồn tại lô 7 khoảnh 1 tiểu khu 878, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đá được giao cho Cộng đồng bản K, xã M, huyện Y. Hàng năm Vừ Lao Vừ Lao P được Ban quản lý bản và Kiểm lâm địa bàn tuyên truyền về việc bảo vệ rừng, bản thân Vừ Lao P đã cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng. Vừ Lao P biết rõ khu rừng “Chua Đá” do cộng đồng bản K quản lý là rừng phòng hộ đầu nguồn, nhưng do cần đất canh tác Vừ Lao P đã thực hiện hành vi Hủy hoại chặt phá rừng

Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao quắm có tổng chiều dài 72cm, cán dao bằng

gỗ tròn đường kính 2,2cm, dài 38cm, chuôi dao bằng kim loại dài 10cm, loại dao một lưỡi sắc, lưỡi dao dài 24cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,3cm. Dao đã qua sử dụng; 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA dài 1,17m; đầu máy kích thước 49cm x 25cm; phần lưỡi cưa dài 73cm, bản rộng 13cm. Máy cũ đã qua sử dụng.

Ngày 19/4/2019, Hạt Kiểm lâm huyện Yên Châu phối hợp Viện kiểm sát, cơ quan

CSĐT Công an huyện Yên Châu, Ủy ban nhân dân xã C, Ủy ban nhân dân xã M tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định diện tích rừng bị phá hủy bằng phần mềm FRMS – Mobile – hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; sử dụng máy tính bảng của Hạt kiểm lâm xác định:

Hiện trường xảy ra vụ hủy hoại rừng tại Lô 7, khoảnh 1, Tiểu khu 878, trạng thái

rừng gỗ tự nhiên núi đá lá rộng thường xanh phục hồi và TXDN (rừng gỗ tự nhiên núi

đá lá rộng thường xanh nghèo), loại rừng phòng hộ đầu nguồn của Cộng đồng bản K, xã

M, huyện Y, tỉnh Sơn La, hình thức giao cho nhóm hộ quản lý, bảo vệ, được UBND

huyện Yên Châu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/01/2002. Diện tích

rừng bị hủy hoại là 8.150m2.

Kiểm đếm số lâm sản bị thiệt hại xác định là các cây gỗ tạp từ nhóm V đến nhóm

VIII bị Vừ Lao P chặt phá gồm 140 cây có khối lượng 9,437m3. Cụ thể: 109 cây có

đường kính trung bình 10cm, chiều dài thân cây 5m có khối lượng 4,280m3; 20 cây có

đường kính trung bình 15cm, chiều dài thân cây 6m có khối lượng 2,120m3; 05 cây có

đường kính trung bình 25cm, chiều dài thân cây 7m có khối lượng 1,319m3; 05 cây có

đường kính trung bình 30cm, chiều dài thân cây 7m có khối lượng 1,718m3. Tổng khối

lượng là 9,437m3.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Châu số 45,

ngày 18/6/2019 kết luận: 9,437m3 gỗ tạp từ nhóm V đến nhóm VIII có đường kính trung

bình từ 10cm đến 30cm, chiều dài thân cây từ 5m đến 8m do Vừ Lao P chặt phá tại thời

điểm tháng 2/2019 có giá trị 9.437.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vừ Lao C đã nhận được máy cưa và

không yêu cầu bị cáo Vừ Lao P phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSYC ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố bị can Vừ Lao P về tội “Hủy hoại rừng”

quy định tại điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà , kiể m sá t viên thực hành quyề n công tố luận tội và tranh luận : Tại

cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cá o Vừ Lao P thừa nhận toàn bộ

hành vi phạm tội, nên kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố theo cáo trạng.

Đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử tuyên bố bị cá o Vừ Lao P phạm tội Hủy hoại rừng . Áp

dụng điểm e khoản 2 điề u 243; điể m b, s khoả n 1, 2 Điề u 51; Điề u 54; khoản 1, 2 Điề u

65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạ t bị cáo Vừ Lao P từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách 60 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Vừ Lao P đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Cộng

đồng bản Khấu Khoang, M, huyện Yên Châu số tiền 978.000 đồng. Cộng đồng bản K,

xã M, huyện Y đã nhận đủ số tiên trên, không yêu cầu đề nghị gì thêm.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều

106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm có tổng chiều dài 72cm, cán dao bằng gỗ tròn

đường kính 2,2cm dài 38cm, chuôi dao bằng kim loại dài 10cm, loại dao một lưỡi sắc,

lưỡi dao dài 24cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,3cm. Dao đã qua sử dụng.

Chấp nhận Cơ quan CSĐT- Công an huyện Yên Châu đã ra quyết định xử lý vật

chứng trả lại tài sản cho ông Vừ Lao C 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị

quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ

theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 (Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt) Điều 51, xử phạt bị cáo 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo, nên miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị

cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, người bào chữa, bị cáo không có ý kiế n gì tự bà o chữ a cho hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh , chỉ xin Hội đồng xét xử xem xé t cho bị cá o đượ c hưở ng mứ c á n thấ p nhấ t và xin đượ c cả i tạ o tạ i đị a phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm

tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên

Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh , như đã khai tại

cơ quan điề u tra. Khoảng giữa tháng 2/2019, Vừ Lao P có hành vi dùng 01 dao quắm, 01 cưa máy chặt phá rừng để lấy đất sản xuất tại khu rừng Chua Đá, bản Khấu Khoang, xã M. Khu rừng bị chặt phá là rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc lô 7, khoảnh 1, Tiểu khu 878 của Cộng đồng bản Khấu Khoang, xã M, hình thức giao cho nhóm hộ quản lý, bảo vệ. Diện tích rừng bị chặt phá là 8,150m2 làm thiệt hại 9,437m3 gỗ tạp từ nhóm V đến nhóm VIII trị giá 9.437.000 đồng. Hành vi của Vừ Lao P đã phạm vào tội Hủy hoại rừng, theo điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với đơn trình báo của bị

hại; biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 10 giờ, ngày 19/4/2019; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 45 ngày 18/6/2019; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Kết luận điều tra của Công an huyện Yên Châu, với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Mục đích hủy hoại rừng để lấy đất làm nương.

Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so

với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại

Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành

vi bị cáo đã thực hiện.

Do đó , Việ n kiể m sá t nhân dân huyệ n Yên Châu đã đưa ra cá c chứ ng cứ buộ c tộ i

và truy tố bị cáo về tội Hủy hoại rừng , tộ i danh và h ình phạt được quy định tại điểm e

khoản 2 điề u 243 Bộ luậ t hì nh sự là có căn cứ và phù hợ p vớ i quy đị nh củ a phá p luậ t.

3 Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ

bị xét xử ở khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

4 Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi của bị cáo là

nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyề n sở hữ u tà i sả n củ a ngườ i khá c , gây mất

trật tự trị an ở địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị

cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên

toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo , ăn năn hố i cả i , tự nguyệ n bồ i thườ ng thiệ t , bị

hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. bị cáo là người dân tộc thiểu số , nhậ n thứ c về

pháp luật còn hạ n chế , sinh số ng trong bả n thuộ c xã có điề u kiệ n kinh tế khó khăn . Đây

là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b , s khoả n 1 và khoản 2 điề u 51 Bộ luậ t

hình sự.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: việc xử lý bị cáo Vừ Lao P

bằng biện pháp hình sự là cần thiết và đúng với quy định của pháp luật, cần phải có mức án

nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượ ng hì nh cũ ng cầ n xem

xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cá o như đã nêu phầ n trên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiề n

án, tiề n sự, có nơi cư trú ổn định, đượ c chí nh quyề n đị a phươngvà gia đình có đơn xin bảo lãnh

ngoài hành vi đang bị xử lý ra thì bị cáo không bị xử phạt hay phạm vào hành vi nào

khác. Do đó Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n đề nghị củ a đạ i diệ n Việ n kiể m sá t về á p dụ ng cá c tì nh

tiế t giả m nhẹ quy đị nh tạ i điể m b, s khoản1, 2 Điề u51, Điề u54, khoản1, 2 Điề u65 của Bộ luật

hình sự đố i vớ i bị cá o.

Từ nhữ ng phân tí ch nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cầ n á p dụ ng điể m e khoả n2 Điề u243,

điể m b, s khoản1, 2 Điề u51, Điề u54 BLHS đố i vớ i bị cá o là hoà n toà n đú ng ngươ, đù í ng tôi,

đú ng phá p luâ. Việ t ̣ c cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là không cần thiết mà cho

bị cáo được cải tạo tại địa phương, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà

ăn năn, hối cải, sửa chữa sai phạm của mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội,

cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình bị cáo có

trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo theo quy định tại khoản

1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự .

Về hì nh phạ t bổ sung . Tại khoản 4 điề u 243 Bộ luậ t hì nh sự quy đị nh “Ngườ i

phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đế n 100.000.000đ”. Hội đồng xét xử xé t thấ y bị cáo Vừ Lao P không có tài sản riêng gì có giá trị lớn, bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

5 Về trách nhiệm dân sự: Vừ Lao P đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho Cộng

đồng bản Khấu Khoang, M, huyện Yên Châu số tiền 978.000 đồng. Cộng đồng bản K, xã M, huyện Y đã nhận đủ số tiên trên, không yêu cầu đề nghị gì thêm. Do đó trá ch nhiệ m dân sự không đặ t vấ n đề giả i quyế t trong vu. ̣ á n

6 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao quắm có tổng chiều dài 72cm, cán dao bằng gỗ tròn đường

kính 2,2cm dài 38cm, chuôi dao bằng kim loại dài 10cm, loại dao một lưỡi sắc, lưỡi dao dài 24cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,3cm, dao đã qua sử dụng. Xét thấy đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp với khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Chấp nhận việc ngày 24/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên

Châu đã làm thủ tục giao trả 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA dài 1,17m; đầu máy kích thước 49cm x 25cm; phần lưỡi cưa dài 73cm, bản rộng 13cm, máy cũ đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vù Lao C. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vừ Lao C không yêu cầu gì thêm.

7 Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm e khoả n 2 Điề u 243; điể m b , s khoả n 1, 2 Điề u 51; Điề u 54;

khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điề u 65 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Vừ Lao P phạm tội Hủy hoại rừng.

Xử phạ t bị cáo Vừ Lao P 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo . Thử

thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Giao bị cáo Vừ Lao P cho UBND xã C, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La giám sát,

giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02

lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành

hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội

mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp

hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Vừ Lao P đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại

cho Cộng đồng bản Khấu Khoang, M, huyện Yên Châu số tiền 978.000 đồng. Cộng

đồng bản K, xã M, huyện Y đã nhận đủ số tiên trên, không yêu cầu đề nghị gì thêm.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1,

điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm có tổng chiều dài 72cm, cán dao bằng gỗ tròn

đường kính 2,2cm dài 38cm, chuôi dao bằng kim loại dài 10cm, loại dao một lưỡi sắc,

lưỡi dao dài 24cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,3cm. Dao đã qua sử dụng.

Chấp nhận việc ngày 24/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên

Châu đã làm thủ tục giao trả 01 máy cưa cầm tay nhãn hiệu HUSQVARNA dài 1,17m;

đầu máy kích thước 49cm x 25cm; phần lưỡi cưa dài 73cm, bản rộng 13cm, máy cũ đã

qua sử dụng cho ông Vừ Lao Cho và ông Vừ Lao C không yêu cầu gì thêm.

4. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị

quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cần miễn

nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Về quyề n khá ng cá o đố i vớ i bả n á n:

Án xử công khai sơ thẩm có mặ t bị cá o, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan.

Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan có quyề n khá ng cá o bả n

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ