- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Bá Thắng phạm tội " Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Bá T phạm tội " đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN T TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50 /2019/HS-ST Ngày: 8- 10 – 2019 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Dung và bà Nguyễn Thị Trúc
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Sĩ Vỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện T, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 8/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2019/TLST-HS ngày 12/9/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Bá T, sinh năm: 1976; Tên gọi khác: Không
Nơi ĐKNKTT: Xóm 5, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Cao Bá C, sinh năm 1952 và bà: Lê Thị M, sinh năm 1954
Vợ: Tô Thị A, sinh năm 1977 hiện sinh sống và làm ruộng tại xã V, huyện T
Có 02 con. Lớn sinh năm 1996; N sinh năm: 2003
Nhân thân: nhỏ được gia đình nuôi dưỡng cho ăn học hết lớp 3/12, lớn lên làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến nay.
Tiền án: Ngày 21/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30.000.000đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 BLHS (Bản án số: 11/2019/HS-ST).
Tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/8/2019. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Trần Đình C, sinh năm 1968
Điạ chỉ: Xóm 6, Xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Lê Kim G, sinh năm 1982
- Bùi Văn T, sinh năm 1981
Cùng địa chỉ: 5, Xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Đặng Duy K, sinh năm 1974
- Đặng Duy D
Cùng địa chỉ: Xóm 8, Xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 31 tháng 5 năm 2019, Nguyễn Văn H, Lê Kim G và Lê Văn D đều ở xã V, huyện T đến nhà Trần Đình C, ở xóm 6, xã V chơi. Tại đây H, G và C rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh tiến lên miền nam ăn tiền. Cấp lấy chiếu, bài rồi cùng mọi người lên tầng hai nhà C đánh bạc, còn anh D thì ra về. Đánh được vài ván thì Cấp, Hùng, Gia chuyển sang đánh liêng. Khi H, G và C đang đánh bạc thì Đặng Duy K, Cao Bá T, Bùi Văn T đến nhà Cấp và tham gia đánh bạc cùng. Sau đó có thêm Nguyễn Đức H, Đặng Duy D và Lê Cảnh D đến và cùng tham gia đánh bạc.
Khi đánh bạc các con bạc thống nhất mỗi ván “chào”, “cắt” ra cho C 10.000đ. Tiền “cắt” để dưới chiếu, khi nào kết thúc mới đưa cho C. Các đối tượng đánh bạc được một lúc thì Nguyễn Văn H và Nguyễn Đức H ra về trước. Trần Đình C hết tiền nên không tham gia chơi nữa. Các đối tượng còn lại gồm: Cao Bá T, Lê Kim G, Bùi Văn T, Đặng Duy K, Đặng Duy D, Lê Cảnh D tiếp tục đánh. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác công an huyện T bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền: 2.880.000đ (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếc chiếu cói và 02 điện thoại di động. Thu trong người T số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Còn Lê Kim G, Bùi Văn T, Lê Cảnh D và Đặng Duy D trốn thoát .
Tại biên bản đầu thú ngày 31 tháng 5 năm 2019, Lê Kim G giao nộp số tiền 3.500.000đ cùng với 01 ví da .
Ngày 19 tháng 6 năm 2019, Đặng Duy D giao nộp 100.000đ tiền đánh bạc D cầm khi chạy trốn.
Quá trình điều tra, bị cáo Cao Bá T khai nhận khi đến nhà C mang theo 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng), dùng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) đánh bạc; Các đối tượng Lê Kim G có 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), dùng 1.000.000đ (một triệu đồng) đánh bạc; Trần Đình C có 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng); Đặng Duy K có 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng); ; Bùi Văn T có 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng); Đặng Duy D có 100.000đ (một trăm nghìn đồng) dùng đánh bạc.
Đối với số tiền 3.000.000đ thu giữ trong người Thắng và số tiền 3.500.000đ thu giữ của Gia, không có căn cứ chứng minh Thắng, G sẽ dùng số tiền này vào đánh bạc nên không đủ căn cứ để buộc các đối tượng T, G , C, K, T, D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền này.
Các đối tượng: Lê Cảnh D, Nguyễn Văn H và Nguyễn Đức H hiện không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tách hành vi của các đối tượng này cùng với một số đối tượng trên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Từ những hành vi trên, cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 11/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa truy tố: Cao Bá T phạm tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi đã thực hiện. Bị cáo khai hình thức chơi bài là sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 cây, người cầm chương chia mỗi người chơi 03 cây bài, sau đó các con bạc so điểm với nhau (điểm cao nhất là 10, nếu cao hơn 10 thì tính điểm ở hàng đơn vị), những cây bài gồm 10, J, Q, K khi cộng điểm sẽ tính bằng 0. Thứ tự từ lớn đến nhỏ. “Sáp” là ba lá bài cùng số; “liêng” là ba cây bài có số thứ tự liền kề nhau; “ảnh” là ba cây bài hình người. Mỗi ván bài người chơi đặt cược 10.000đ (mười nghìn đồng) gọi là tiền “luống”. Sau khi cộng điểm người chơi sẽ “tố” theo chiều ngược kim đồng hồ, đến lượt người chơi nào mà không “tố” sẽ úp bài xuống chiếu và sẽ mất tiền đặt cược ván đó, mức “tố” đặt cược cao nhất mỗi ván bài là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi “tố” những con bạc sẽ hạ bài tính điểm nếu bài ai cao điểm hơn sẽ là người thắng cược và được ván đó. Nếu ván bài có nhiều người “tố” bằng điểm nhau thì gọi là chào, những người này sẽ được chia đánh ván tiếp theo.
Quá trình đánh bạc không ai cho vay, cầm cố tài sản để đánh bạc.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS, và đề nghị HĐXX: Áp dụng: Khoản 1; khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố Cao Bá T phạm tội " đánh bạc". Xử phạt Cao Bá T từ 6 đến 9 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 30/8/2019.Phạt bổ sung 10 triệu đồng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền dùng đánh bạc 2.980.000đ; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói đã qua sử dụng; Quy trữ để đảm bảo thi hành án số tiền 3.000.000đ của Cao Bá T; Trả lại các tài sản không liên quan đến vụ án gồm: và 01 điện thoại oppo màu trắng của Cáo Bá T; Trả lại cho Lê Kim G số tiền 3.500.000đ và 01 ví da màu nâu; trả lại cho Trần Đình C 01 điện thoại di động nokia. Tất cả các tài sản này đang quy trữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đều nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau: [1]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; [2]. Những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bởi: Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, mặt khác bị cáo đã bị kết án về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm (do có 01 tiền án ngày 21/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xét xử theo bản số 11/2019, xử phạt 30.000.000đ về tội đánh bạc), nên đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Cao Bá T có hành vi đánh bạc cùng các đối tượng H, G, C, K, H, T, D và D bằng hình thức chơi bài ăn tiền, hình thức đánh liêng, số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.980.000đ. Với hành vi nêu trên Cao Bá T đã phạm vào tội " đánh bạc". Như vậy, cáo trạng của VKS và bản luận tội của KSV tại phiên tòa là có căn cứ; [3]. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo mới bị Tòa án T xét xử về hành vi đánh bạc vào tháng 3 năm 2019, nhưng bản thân không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, không chịu khó làm ăn, vì động lực vụ lợi, được thua bằng tiền nên lại tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh liêng, nhằm sát phạt lẫn nhau. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an xã hội và còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục, và phòng ngừa chung. [4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5].Về trách nhiệm hình sự: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. [6]. Trong vụ án này có số tiền 3.000.000đ thu giữ trong người T và số tiền 3.500.000đ thu giữ của G. Thắng và G đều khai nhận không dùng vào việc đánh bạc, cũng không có tài liệu khác chứng minh T, G sẽ dùng số tiền này vào đánh bạc nên không đủ căn cứ để buộc các đối tượng T, G, C, K, T, D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền này. Mặt khác các đối tượng: Lê Cảnh D, Nguyễn Văn H và Nguyễn Đức H hiện không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan C sát điều tra Công an huyện T đã tách hành vi của các đối tượng này cùng với một số đối tượng khác tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật. [7]. Xử lý vật chứng:Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền dùng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói đã qua sử dụng; Trả lại các tài sản không liên quan đến vụ án. [7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Cao Bá T phạm tội " đánh bạc".
Xử phạt: Cao Bá T 7 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2019.
Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; Khoản 1; 2 Điều 106 BLTTHS:Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền dùng đánh bạc 2.980.000đ; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói đã qua sử dụng; Trả lại các tài sản không liên quan đến vụ án gồm: Số tiền 3.000.000đ và 01 điện thoại oppo màu trắng của Cáo Bá T ; Trả lại cho Lê Kim G số tiền 3.500.000đ và 01 ví da màu nâu; trả lại cho Trần Đình C 01 điện thoại di động nokia. Hiện các vật chứng này đang được quy trữ tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T theo biên bản bàn giao ngày 19 tháng 9 năm 2019. {
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự ,Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ ( hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 334 BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung Nguyễn Thị Trúc
Lê Thị Thủy
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh TH; - VKSND tỉnh TH; - VKSND Triệu Sơn; - Công an Triệu Sơn; - Thi hành án DS Triệu Sơn; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |