vanban.org

Bản án 50/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017; X phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ng…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PNT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
T
D
T
D G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HS-ST.
Ngày 24-9-2019.

NHÂN DANH

Ớ

T M

T

D

, T

D

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Thu Thảo;

Bà Lê Thị Thùy Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương t sơ th m c ng khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 49/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 48/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1992 tại tỉnh Lâm Đồng; thường trú: Thôn 12, ã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: Khu phố 2, phường AP, thị ã Thuận An, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1963 và bà Phan Thị U, sinh năm 1965; tiền án: Không, tiền sự: Kh ng; bị cáo tại ngoại có mặt.

Các bị hại, gồm có:

1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960; thường trú: Ấp V, ã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (chết).

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị X gồm có:

1.1 Bà Mai Thị T2, sinh năm 1983; thường trú: Ấp 2A, xã P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương – Là con ruột của bị hại Nguyễn Thị X; có mặt.

1.2 Bà Mai Thụy N, sinh năm 1986; thường trú: Ấp VT, xã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương – Là con ruột của bị hại Nguyễn Thị X; vắng mặt.

1.3 Bà Mai Thanh T3, sinh năm 1989; thường trú: Ấp V, ã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương – Là con ruột của bị hại Nguyễn Thị X; vắng mặt.

2. Bà Đỗ Thị T4, sinh năm 1977; thường trú: Ấp CC, ã AB, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; ngày 19/9/2019 bà Đỗ Thị T4 có đơn in t vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH ĐMQ; địa chỉ trụ sở chính: 59/3, khu phố 2, phường AP, thị ã Thuận An, tỉnh Bình Dương;

Người đại diện hợp pháp Công ty TNHH ĐMQ: Bà Q, sinh năm 1973; thường trú: 59/3, khu phố 2, phường AP, thị ã Thuận An, tỉnh Bình Dương, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc; ngày 20/9/2019 bà Q có đơn in t vắng mặt.

D

Ụ :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc T có giấy ph p lái e t hạng C, số 790146798623 do c ng an Thành phố Hồ Chí Minh cấp. T lái xe thuê cho công ty TNHH ĐMQ, địa chỉ tại phường AP, thị ã Thuận An, Bình Dương.

Khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 27/02/2019, Phạm Ngọc T điều khiển e t tải ben biển số 61C - 370.10 chở đá lưu th ng trên đường ĐT 741 theo hướng từ thị trấn PV đến ã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Khi đi đến ngã ba giao nhau giữa đường ĐT 741 với đường Độc Lập thuộc khu phố 1, thị trấn PV, huyện Phú Giáo, lúc này đèn tín hiệu giao th ng đang là đèn đỏ nhưng Trung kh ng chấp hành theo tín hiệu của đèn giao th ng là phải dừng e mà tiếp tục điều khiển e t biển số 61C - 370.10 vượt qua đèn đỏ, khi e vừa qua trụ đèn tín hiệu thì T phát hiện thấy e m t biển số 61F1 - 144.79 do bà Đỗ Thị T4 điều khiển đang đi từ đường Độc Lập ra đường ĐT 741 cách e bị cáo T khoảng 3m - 4m. Thấy vậy, bị cáo T đạp thắng rồi đánh lái sang bên trái để tránh nhưng do khoảng cách gần nên cản bình ăng phía bên phải e t biển số 61C - 370.10 va chạm vào e m t biển số 61F1 - 144.79 làm bà T4 ngã xuống đường. Xe t biển số 61C - 370.10 tiếp tục chạy sang phần đường ngược chiều làm đầu e t biển số 61C-370.10 đụng vào e m t (chưa cấp biển số) nhãn hiệu Honda SH mode do bà Nguyễn Thị X điều khiển đang dừng chờ đèn tín hiệu giao th ng màu anh, làm bà X ngã uống đường. Sau đó bánh e phía trước bên phải của e t biển số 61C - 370.10 cán qua phần vai và cổ của bà X làm bà X t vong tại chỗ.

Kết luận số 180/GĐPY ngày 28/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị X là do choáng đa chấn thương, gãy rời cột sống cổ.

Bản kết luận định giá tài sản ngày 17/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận giá trị thiệt hại của e m t biển số 61F1-144.79 là 1.000.000 đồng và e m t kh ng biển số nhãn hiệu Honda SH mode là 1.300.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Phú Giáo thu giữ: 01 e t biển số 61C – 370.10; Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty TNHH ĐMQ, bà Q là đại diện theo pháp luật của c ng ty, bà Q nhận e và kh ng có yêu cầu gì thêm. 01 xe mô t biển số 61F1 – 144.79; Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc e trên cho bà T4, bà T4 nhận e và kh ng có yêu cầu gì thêm. 01 e m t nhãn hiệu Honda SH mode (chưa cấp biển số), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc e trên cho bà Mai Thị T2, là đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại X, bà T3 nhận e và kh ng có yêu cầu gì thêm. 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Phạm Ngọc T.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSPG, ngày 15/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng t tuyên phạt bị cáo Phạm Ngọc T mức hình phạt từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 36 (ba mươi sáu) tháng đến 48 (bốn mươi tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 170.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại kh ng yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường nên kh ng em t.

Về lý vật chứng: Quá trình điều tra đã trả lại tài sản hợp pháp cho người sở hữu hợp pháp các tài sản gồm: 01 e t biển số 61C – 370.10; 01 xe m t biển số 61F1 – 144.79; 01 e m t nhãn hiệu Honda SH mode (chưa cấp biển số) nên không xem xét. Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Phạm Ngọc T.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc T thừa nhận hành vi tham gia giao th ng đường bộ, gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người, bị thương 01 người và hư hỏng tài sản. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 170.000.000 đồng; bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo in được hưởng án treo và kh ng có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Mai Thị T2 thừa nhận đã nhận bồi thường ong số tiền 170.000.000 đồng của bị cáo và không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường; về hình phạt, đề nghị Hội đồng t

em t giảm nh hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Tại phiên tòa, bị hại Đỗ Thị T4 vắng mặt, tuy nhiên trong đơn in t

vắng mặt và lời khai trong quá trình tố tụng thừa nhận chính bị cáo Phạm Ngọc T đã gây tai nạn giao th ng, do chỉ bị thương tích nh nên đã làm đơn in từ chối giám định thương tích, kh ng yêu cầu bị cáo bồi thường và in giảm nh hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự bà Q vắng mặt, tuy nhiên trong đơn in t vắng mặt và lời khai trong quá trình tố tụng thừa nhận e t biển số 61C-37010 là của C ng ty TNHH ĐMQ, bị cáo điều khiển xe gây tai nạn giao th ng, bà đã nhận lại e và kh ng có ý kiến khác nên Hội đồng t kh ng em t.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng t

em t giảm nh hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Ậ ĐỊ

T

:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, bị đơn dân sự kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Bị cáo Phạm Ngọc T có giấy ph p lái e t hạng C theo quy định. Khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 27/02/2019, tại đoạn đường ngã ba giao nhau giữa đường ĐT 741 với đường Độc Lập thuộc khu phố 1, thị trấn PV, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo Phạm Ngọc T điều khiển e t tải biển số 61C – 370.10 chở đá lưu th ng trên đường ĐT 741 theo hướng từ thị trấn PV đến ã VH, huyện Phú Giáo do kh ng chấp hành tín hiệu của đèn tín hiệu giao thông, vượt đèn đỏ nên ảy ra va chạm với e m t biển số 61F1-144.79 bà Đỗ Thị T4 điều khiển đi từ đường Độc Lập ra đường ĐT 741, tiếp tục chạy sang phần đường ngược chiều va chạm với e m t (chưa cấp biển số) nhãn hiệu Honda SH mode do bà Nguyễn Thị X đang dừng chờ đèn tín hiệu giao th ng. Hậu quả làm bà X chết, bà T4 bị thương tích và hư hỏng tài sản.

[3] Căn cứ Kết luận số 180/GĐPY ngày 28/02/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị X là do choáng đa chấn thương, gãy rời cột sống cổ; bản kết luận định giá tài sản ngày 17/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận giá trị thiệt hại của e m t biển số 61F1-144.79 là 1.000.000 đồng và e m t kh ng biển số nhãn hiệu Honda SH mode là 1.300.000 đồng.

[4] Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc T điều khiển e t kh ng tuân thủ Luật Giao th ng đường bộ (kh ng chấp hành chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ đã vi phạm Điều 11 của Luật Giao th ng đường bộ) gây tai nạn giao th ng làm chết 01 người, bị thương 01 người và hư hỏng tài sản.

[5] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc T là nguy hiểm cho ã hội, âm phạm đến trật tự an toàn giao th ng đường bộ, âm phạm đến tính mạng của người tham gia giao th ng. Do đó, cần có mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[8] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Kh ng có.

[9] Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đại diện hợp pháp của bị hại in giảm nh hình phạt; do đó, Hội đồng t áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nh hình phạt cho bị cáo.

[10] Do bị cáo Phạm Ngọc T có nhiều tình tiết giảm nh , kh ng có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhân thân tốt, bị cáo có khả năng tự cải tạo, giáo dục và nếu kh ng bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì kh ng gây ảnh hưởng ấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội lần đầu, khi quyết định hình phạt kh ng cần cách ly bị cáo T ra khỏi ã hội; vì thế, Hội đồng t áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[11] X t ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[12] X t ý kiến của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, bị đơn dân sự là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[13] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường ong, kh ng yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên Hội đồng t kh ng em t.

[14] Về lý vật chứng: Quá trình điều tra đã trả lại tài sản hợp pháp cho người sở hữu hợp pháp các tài sản gồm: 01 e t biển số 61C – 370.10; 01 xe m t biển số 61F1 – 144.79; 01 e m t nhãn hiệu Honda SH mode (chưa cấp biển số) nên kh ng em t. Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Phạm Ngọc T.

[15] Về án phí sơ th m: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q ẾT ĐỊ :

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 48; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được s a đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017;

X phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2019).

Giao bị cáo Phạm Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường AP, thị ã Thuận An, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian th thách.

Trường hợp bị cáo Phạm Ngọc T thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian th thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy ph p lái e t hạng C số 790146798623 mang tên Phạm Ngọc T.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2019.

4. Về án phí hình sự sơ th m: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị đơn dân sự, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ