vanban.org

Bản án 50/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/4/2019. Xử Đ vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Ng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HS-ST
Ngày 25- 7 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Hà Bắc;

2. Ông Nguyễn Xuân Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lự - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ Đ số: 47/2019/HSST ngày 31/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXXST - HS ngày 12/7/2019.

Bị cáo Nguyễn Văn L, sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu, nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ Đặng Thị Đ (Đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân L là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 13 giờ ngày 02/4/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy, L một mình đi đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện L thuộc thôn Thân Phú, thị trấn Đồi Ngô để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp một thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, L hỏi "Còn, để cho anh 100.000đ" (tức là hỏi mua 100.000đ ma túy heroin), người thanh niên này đồng ý và đưa cho L 01 vỏ bao thuốc lá màu trắng bạc nhãn hiệu "SAI GON" L mở ra thấy có 02 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, một đoạn màu xanh, một đoạn màu hồng, L biết trong đó chứa ma túy Heroin và một điếu thuốc lá nhãn hiệu "Vinataba". L nhận ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về khu vực làn 2 thuộc phố Bình Minh, thị trấn Đồi Ngô, huyện L để tìm chỗ sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L kiểm tra bắt quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu ở trên.

Ngày 02/4/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Nguyễn Văn L tại thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định chất ma túy và khối lượng chất ma túy. Tại bản Kết luận giám định số 418/KL-KTHS ngày 04/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu "SAI GON", màu trắng bạc:

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng) đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng: 0,150 gam (hoàn lại sau giám định là 0,114 gam).

+ Không tìm thấy chất ma túy trong điếu thuốc lá nhãn hiệu "Vinataba".

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, bị cáo trình bày lời nói sau cùng xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 27/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo L từ 12 đến 15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, miễn phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo không có tài sản và không có thu nhập ổn định.

Về xử Đ vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ký hiệu "QT" bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 túi nilong đựng bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, đã bị vỡ một góc màn hình bên phải nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 14 giờ 20 phút ngày 02/4/2019, tại đường liên phố Làn 2 phố Bình Minh, thị trấn Đồi Ngô, huyện L, tỉnh Bắc Giang, khi Nguyễn Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,150 gam ma tuý Heroin thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp cùng Công an thị trấn Đồi Ngô phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo xâm phạm tới chế độ độc quyền về quản Đ các chất ma túy của Nhà nước, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử Đ nghiêm theo quy định của pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, cần giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta. Xét mức hình phạt bằng mức khởi điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Về hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền: Do bị cáo không có tài sản và không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử Đ vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư ký hiệu "QT" bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 túi nilong đựng bơm kim tiêm chưa qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, đã bị vỡ một góc màn hình bên phải do không liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo.

Về những vấn đề khác:

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Văn L tại khu vực Bệnh viện đa khoa huyện L, do L khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xác minh làm rõ để xử Đ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Đều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/4/2019.

2. Xử Đ vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, đã bị vỡ một góc màn hình bên phải nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư ký hiệu "QT" bên trong đựng mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; 01 túi nilong đựng bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử công khai sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bắc Giang;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện L;

- Công an huyện L;

- Chi cục THADS huyện LN;

- UBND xã Đ;

- Bị cáo;

- Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Thái – Nguyễn Thị Hoan

Nguyễn Thị Linh

Cỡ chữ