vanban.org

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Lê Thùy T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 02/11/2012 cho chị Lê Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị Lê Thùy T không có yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NguyễnHoàng A - Lê Thùy T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Lê Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Đượm

Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm: 1984

Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Chị Lê Thùy T, sinh năm: 1980

Địa chỉ: ấp B, xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A trình bày: anh và chị Lê Thùy T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đây là kết hôn đầu của anh chị. Cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi vã. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Quá trình không sống chung, anh chị mạnh ai nấy sống, anh đã nhiều lần tìm gặp chị T để hòa giải nhưng chị Trang không chấp nhận. Hiện nay, tình cảm vợ chồng đã không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 02/11/2012. Hiện nay, cháu D đang do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh giao cháu D cho chị T nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.

- Bị đơn chị Lê Thùy T đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn chị Lê Thùy T đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Lê Thùy T. Về con chung: Giao cháu D cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh A. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thùy T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T là phù hợp.

Anh Nguyễn Hoàng A có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh A là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng A và chị Lê Thùy T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Anh Nguyễn Hoàng A khai cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi vã. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Quá trình không sống chung, anh chị mạnh ai nấy sống, anh đã nhiều lần tìm gặp chị T để hòa giải nhưng chị Trang không chấp nhận. Việc anh A và chị T không còn sống chung với nhau là có, được chính quyền địa phương xác nhận tại biên bản xác minh ngày 11/6/2019 (bút lục 40). Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của anh A và chị T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A là phù hợp với Điều 56 Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh A giao cháu Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 02/11/2012 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con cho chị T. Xét thấy, tuy chị T không có lời trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung nhưng hiện nay cháu D đang sống do chị T nuôi dưỡng, cháu T còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nên giao cháu Tuấn cho chị Trang nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Anh A trình bày không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.

Về nợ chung: Anh A trình bày anh chị không có nợ chung. Chị T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy, không giải quyết.

Về án phí: Anh A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận cho anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Lê Thùy T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 02/11/2012 cho chị Lê Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chị Lê Thùy T không có yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

Chị Lê Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không được cản trở việc thăm non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh Nguyễn Hoàng A.

Anh Nguyễn Hoàng A được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Lê Thùy T. Khi cần thiết, anh Nguyễn Hoàng A và chị Lê Thùy T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: không giải quyết.

4. Về nợ chung: không giải quyết.

5. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí anh A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 007122 ngày 14/02/2019 được tính trừ vào án phí.

Anh Nguyễn Hoàng A và chị Lê Thùy T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ