- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Thái Khắc B - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2018/HSST; Ngày: 05/6/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
– ủ
Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt;
1. Ông Từ Ngọc Viễn;
2. Bà Lê Thị Thu Yến;
-
Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Mỹ Tho.
à
ố Mỹ o –
Bà Trần Thị Ngọc Thức – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho mở phiên
tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2018/HSST ngày 02 tháng 4
năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5
năm 2018, đối với bị cáo:
THÁI KHẮC B
- Sinh năm 1985, tại tỉnh Nghệ An
- Nơi ĐKNKTT và chổ ở: Tổ A, Khu phố B, phường T, thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Không.
- Trình độ học vấn: 12/12.
- Cha: Thái Khắc D (Chết); Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1943; Địa chỉ: Đội I, xã T,
huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo chưa có vợ, con.
- Ngày 17/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt
01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 179/2016/HSST).
- Ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Mê Thuộc, tỉnh Đăk Lăk xử
phạt 08 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 99/2017/HSST). Tổng hợp
hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án số 179/2016/HSST ngày 17/8/2016 của Toà án
- 2 -
nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt là 09 năm 06 tháng tù.
- Ngày 26/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt
02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 82/2017/HSST). Tổng hợp hình phạt 09 năm 06 tháng tù tại bản án số 99/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Mê Thuộc, tỉnh Đăk Lăk. Buộc bị cáo chấp hành chung hình phạt là 11 năm 06 tháng tù. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại Giam Kinh 7 - Bộ Công an.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* N ờ bị : Trần Quốc Anh T – sinh năm 1978;
Trú tại: Số 14/5A đường L, Phường I, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (vắng
mặt).
* N ờ ó quy lợ , ĩ vụ l qu : Phan Thị Thu H – sinh năm 1954
Trú tại: Số 14/5A đường L, Phường U, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (vắng
mặt).
* N ờ là ứ : Lê Thị Phương T – sinh năm 1984;
Trú tại: Số 338/A5, ấp 3, xã T, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Bị cáo B có thời gian làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV K (Công ty
V) và có giao dịch mua bán hàng với Doanh nghiệp tư nhân P, do do bà Phan Thị Thu H làm chủ doanh nghiệp và chị Trần Quốc Anh Th, (là con ruột bà H) làm đại diện. Sau khi nghỉ việc tại Công ty V, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin để chiếm đoạt tiền của doanh nghiệp P. Để thực hiện ý định, ngày 31/7/2015 bị cáo điện thoại cho chị T và nói B đã nghỉ việc tại Công ty V, hiện đang làm cho Công ty H tại tỉnh Bình Dương nhưng thực chất B không có làm việc tại đây. B giả vờ nói với T hiện Công ty đang có lô hàng tồn kho loại sắt hộp vuông giá rẻ hơn thị trường 20%, nếu không đặt mua thì hôm sau sẽ tăng giá và lô hàng này sẽ bán theo giá thị trường; Chị T yêu cầu B gửi bảng báo giá và thông tin lô hàng. Để chị T tin tưởng, bị cáo lên mạng Internet tìm những mặt hàng sắt tồn kho và chỉnh sửa lại thành một bảng báo giá giả của Công ty H với giá trị các mặt hàng rẻ hơn bảng báo giá thật 20% rồi Fax bảng báo giá giả đó cho chị T. Khi xem bản báo giá, chị T tưởng thật nên đồng ý và điện thoại cho B đặt những mặt hàng cần mua. B tiếp tục làm giả một đơn đặt hàng, một giấy ủy quyền giả của Công ty H Sen và gửi Fax cho chị T, đồng thời yêu cầu chị T phải chuyển tiền đặt cọc trước cho bị cáo là 95.000.000 đồng.
Đến ngày 01/8/2015, chị T đến Phòng giao dịch Ngân hàng A chi nhánh thành phố
Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang chuyển vào tài khoản số 0101329820 của bị cáo 95.000.000 đồng. Cùng ngày, bị cáo đến Ngân hàng TMCAP Đông Á chi nhánh Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh rút số tiền trên tiêu xài hết. Ngày 02/8/2015, chị T điện thoại cho bị cáo yêu cầu chuyển hàng và bị cáo nói vài ngày nữa sẽ chuyển. Do thấy bị cáo không chuyển hàng, chị T tiếp tục điện thoại cho bị cáo thì bị cáo nói số tiền chị T chuyển, bị cáo đã bị giật mất và
- 3 -
hứa trả lại cho chị T. Ngày 06/8/2015, bị cáo Bảy đến Ngân hàng T chi nhánh Quận 4,
thành phố Hồ Chí Minh chuyển vào tài khoản số 070022023169 của chị T 17.000.000
đồng rồi tắt máy điện thoại không liên lạc với T. Đến ngày 10/6/2016, chị T làm đơn tố cáo
hành vi phạm tội của B.
Ngày 09/02/2017, Công ty H Sen (Địa chỉ số 9, Đại Lộ T, Khu công nghiệp S,
phường D, tỉnh Bình Dương) có văn bản xác định “Từ trước đến nay, Công ty H và các
đơn vị trực thuộc không tuyển dụng bất kỳ ai có tên THÁI KHẮC B vào làm việc”. Trong
quá trình điều tra, truy tố, bị cáo THÁI KHẮC B đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tiền của chị Trần Quốc Anh T như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTPMT-HS ngày 29 tháng 3 năm 2018 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo THÁI KHẮC B về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản” theo điểm e Khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên
tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho giữ quyền công tố vẫn giữ y quan
điểm về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như cáo trạng đã
truy tố và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo THÁI KHẮC B từ 04 năm đến 05 năm tù;
đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị: Ghi nhận việc người bị hại Trần Quốc Anh T đã
nhận lại số tiền 17.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền bị chiếm
đoạt.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố và không có ý kiến
gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất
hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] í ợ
ủ à v , quyế đị ố ụ Hành vi, quyết định tố tụng
của cơ quan điều tra Công an thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định cua Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và
tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của người bị
hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 31/7/2015, bị cáo THÁI KHẮC
B đã dùng thủ đoạn gian dối lừa chị Trần Quốc Anh T, bị cáo tự nhận mình đang làm việc
cho Công ty H, đồng thời đưa ra thông tin giả là Công ty H có lô hàng tồn kho loại sắt hộp
vuông giá rẻ hơn thị trường 20% và dùng hành vi gian dối làm bảng báo giá giả gửi Fax
cho chị T, cố ý làm chị T tin tưởng chuyển tiền đặt cọc mua lô hàng theo yêu cầu của bị
cáo là 95.000.000 đồng. Bị cáo đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền 95.000.000 đồng. Hành vi
của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt
được qui định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.
- 4 -
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm
đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo lợi dụng lòng tin của chị T để chiếm đoạt số tiền 95.000.000 đồng đề tiêu xài cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức để lao động nên bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hiện tại, bị cáo B đang chấp hành hình phạt tù tại bản án số 82/2017/HSST ngày
26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã tuyên phạt bị cáo chấp hành hình phạt chung là 11 năm 06 tháng tù. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt và ấn định thời gian chấp hành hình phạt chung cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự;
tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyên bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại và người bị hại có yêu cầu bãi nại cho bị cáo; nên cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
* Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Quốc Anh T đã nhận lại 17.000.000 đồng trong
số tiền 95.000.000 đồng bị chiếm đoạt và tự nguyên không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền thiệt hại còn lại nên Tòa án ghi nhận.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
l
,
QUY T ĐỊNH:
Tuyên bố Bị cáo THÁI KHẮC B phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Á ụ đ e oả 2 u 139 B luậ
ự ă 1999; đ
oả 1, oả 2 u 51; u 56 B luậ h ự ă 2015;
- Xử phạt bị cáo THÁI KHẮC B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 11 năm 06 tháng tù tại bản án số 82/2017/HSST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Buộc bị cáo THÁI KHẮC B phải chấp hành hình phạt chung là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2016.
- Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc chị Trần Quốc Anh T đã nhận lại số tiền 17.000.000 đồng và không
yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền còn lại đã bị chiếm đoạt.
- Về án phí:
- 5 -
Á ụ
u 136 B luậ ố ụ
ự; oả 1
u 23 N ị quyế
326/2016/UB Q 14 ày 30/12/2016 ủ Ủy b
ờ vụ Quố
Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có
quyến lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được
hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Sờ Tư pháp T.Tiền Giang; - VKSND TP Mỹ Tho; - Công an TP Mỹ Tho; - Chi cục THADS TP Mỹ Tho; - Bộ phận thi hành án hình sự; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Minh Nguyệt |