vanban.org

Bản án 50/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 11/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Quang N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đào Quang N mua bán trái phếp chất ma túy. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Quang N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt tù
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 50/2018/HSST
Ngày 11-06-2018.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Khuyến;

Ông Phạm Văn Thượng.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 06 năm 2018, tại Trụ sở Uỷ ban nhân dân xã T1, huyện T2, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2018 đối với bị cáo:

Đào Quang N1, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1982; nơi sinh: Xã T3, huyện T2, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T3, huyện T2, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Đào Văn N2, sinh năm 1959, họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; họ tên vợ: Lê Thị M, sinh năm 1985; có 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không.

Danh chỉ bản số 1295 do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 11/04/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2018; bị tạm giam từ ngày 14/4/2018; hiện bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ thuộc Công an huyện Thái Thụy, trích xuất, có mặt.

-Người làm chứng:Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn V, xã T5, huyện T2, tỉnh Thái Bình; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ ngày 11/4/2018, tại khu vực nhà ở của bị cáo thuộc địa phận thôn Đ, xã xã T3; tổ công tác Công an huyện T2- Công an xã T3 bắt quả tang bị cáo N1 bán ma túy cho anh Hoàng Văn T4. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ từ anh T4 02 gói chứa chất bột màu trắng dạng cục (Mẫu A1)- anh T4 khai đó là 02 gói ma túy loại hêrôin anh vừa mua của bị cáo. Kiểm tra người bị cáo, tổ công tác phát hiện và thu giữ số tiền 200.000,đồng và 01 gói khác chứa chất bột màu trắng dạng cục (Mẫu A2). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; tiến hành niêm phong vật chứng. Người mua ma túy là anh T4 xác định: Sáng ngày 11/4/2018, anh đi đến nhà bị cáo và hỏi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đồng ý và đã bán cho anh 02 gói ma túy là hêrôin với giá 200.000đồng. Việc mua bán vừa xong thì bị Công an bắt quả tang; thu giữ vật chứng vụ án. Ông Phạm Văn T5, ông Mai Văn O là những người đã trực tiếp chứng kiến công an thu giữ 02 gói ma túy từ anh T4, thu giữ số tiền bán ma túy và gói ma túy khác trong người bị cáo. Theo kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Thái Bình thì mẫu vật thu giữ gửi giám định là ma túy, loại hêrôin; khối lượng mẫu A1 là 0,0582gam; khối lượng mẫu A2 là 0,0379gam.

Tại phiên tòa, bị cáo trình bày: Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2014 nên thường mua ma túy về sử dụng. Ngày 10/4/2018, bị cáo đi đến khu vực chợ B, thành phố T6 mua 01 gói ma túy giá 200.000đồng của một người đàn ông. Bị cáo đem số ma túy đó về nhà, chia thành 03 gói nhỏ. Hồi 09 giờ 00 phút ngày 11/04/2018, khi anh T4 đến hỏi mua ma túy thì bị cáo đã bán cho anh T4 số ma túy là 02 gói hêrôin giá 200.000đồng. Ngay khi đó, Công an bắt quả tang; thu giữ 02 gói ma túy từ anh T4; thu giữ từ bị cáo số tiền 200.000đồng bán ma túy và 01 gói ma túy khác.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSTT ngày 15/5/2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Luận tội của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; đề nghị căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy; tịch thu sung công số tiền 200.000đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều trình bày: Hồi 09 giờ ngày 11/04/2018, tại nhà ở của bị cáo thuộc địa phận xã T2, bị cáo đã bán 02 gói ma túy là hêrôin cho anh T4. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Thái Thụy lập hồi 09 giờ 15 ngày 11/4/2018; Kết luận giám định; Biên bản xác minh tại Công an xã T2; lời khai của người mua ma túy là anh Hoàng Văn T4; của những người chứng kiến là ông Phạm Văn T5, ông Mai Văn O và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Đào Quang N1 là người đã thực hiện hành vi: Bán trái phép 02 gói ma túy là hêrôin cho anh Hoàng Văn T4. Hêrôin là chất ma túy được quy định trong Nghị định số 82/2013/NĐ- CP Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ngày 19/07/2013 của Chính phủ nên hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý về chất ma túy. Bị cáo là người trên 18 tuổi, thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bán 0,0582gam ma túy, loại hêrôin nên đã vi phạm khoản 1 của điều luật. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điều luật trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “ Tội mua bán tráp phép chất ma túy: 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Vì vậy, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt tù đối với bị cáo để giáo dục bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Theo các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, cũng không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

-Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

-Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/05/2018 gồm:

-Các mẫu A1, mẫu A2 đều là ma túy, loại Hêrôin; trong đó: khối lượng mẫu A1 là 0,0582gam; mẫu A2 là 0,0379gam. Sau khi lấy mẫu giám định: Mẫu A1 còn 0,0415gam; Mẫu A2 còn 0,0265gam. Đây là vật cấm lưu hành, cần áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

-Số tiền 200.000đồng do bị cáo phạm tội mà có; cần áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

. Về các vấn đề khác của vụ án:

- Bị cáo trình bày: Trước đây, khi mua ma túy, bị cáo không biết tên, địa chỉ người bán. Ngày 11/4/2018, tại khu vực chợ B, thành phố T6, bị cáo mua ma túy của người đàn ông nhưng bị cáo cũng không biết tên, địa chỉ người bán. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định những lần mua ma túy trước đây của bị cáo; cũng không có cơ sở xác định người bán ma túy cho bị cáo ngày 10/4/2018.

-Anh Hoàng Văn T4 trình bày: Anh thuê xe ôm đến gần nhà bị cáo thì xuống xe, đi bộ vào nhà bị cáo để mua ma túy. Trong quá trình tố tụng, Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với người mua ma túy là anh T4. Do anh T4 không biết tên địa chỉ người xe ôm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định về người xe ôm.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000,đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Đào Quang N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2018.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/05/2018 được xử lý như sau:

-Tịch thu tiêu hủy 0,0415gam ma túy là Hêrôin của mẫu A1;

-Tịch thu tiêu hủy 0,0265gam ma túy là Hêrôin của mẫu A2;

-Tịch thu từ bị cáo số tiền 200.000đồng nộp ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000,đồng án hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ