- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Thanh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H ình sự n ăm; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật H ình sự n ăm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 50/2018/HSST Ngày 18-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với Hội đồng xét x ử s ơ th ẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Thạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Ngọc Thành
2. Ông Phạm Công Gia
- Thư k ý phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng - Thư k ý Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện TP, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN, xét xử s ơ th ẩm vụ án hình sự thụ lý số
42/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa v ụ án ra xét xử số
52/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo :
Trần Thanh T, sinh năm 1997 tại ĐN. Nơi cư trú: Khu 5, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ v ăn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật ; quốc tịch : Việt Nam; con ông Trần Thanh V , sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Ngọc T , sinh năm 1973; bị cáo chưa có v ợ , con; tiền án, ti ền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng ăn chặn Cấm đi khỏi n ơi c ư trú (có mặt ).
- Bị hại: Ông Phạm V ăn Đ (đã chết)
- Ngư ời đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Phạm Tiến D – sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ : Ấp Thanh T 1, xã PL, huyện TP, tỉnh ĐN.
2. Bà Trần Thị Th – sinh năm 1949 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thanh T, xã
PX, huyện TP, tỉnh ĐN.
3. Ông Phạm V ăn H – sinh năm 1955 (vắn g mặt)
Địa chỉ : Số nhà 736/21, đư ờng a, phư ờng b, quận GV, Thành phố d.
4. Ông Phạm Duy L – sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thanh T 3, xã
PL, huyện TP, tỉnh ĐN.
5. Ông Phạm Duy Kh – sinh năm 1963 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Thanh T 1, xã
PX, huyện TP, tỉnh ĐN.
6. Bà Phạm Thị L – sinh năm 1964 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Ph ương L 2, x ã PL, huyện TP, tỉnh ĐN.
7. Bà Phạm Thị Q – sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: 18, Phố chợ, Ph ư ờng TT, Quận TP, TP d.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn b iến tại phiên tòa, nội dung
vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Bị cáo Trần Thanh T có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định.
Sáng ngày 03 tháng 01 năm 2018, Trần Thanh T điều khiển xe mô tô biển
số 60B3 -520.08 đi trên Quốc lộ 20 theo h ư ớng Lâm Đồng về Dầu Giây. Lúc 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến Km 64 Quốc lộ 20 thuộc
Ấ p Thọ L 1, xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN, do không như ờng đư ờng cho ông Phạm V ăn Đ đang dắt bộ xe đạp từ bên phải
đư ờng sang bên trái đư ờng nên T đã đụng vào ông Đ gây tai nạn giao thông .
Tại hiện tr ư ờng vụ tai nạn , mặt lòng đư ờng Quốc lộ 20 rộng 11m10.
Sau khi xảy ra tai nạn xe mô tô và xe đạp tr ư ợt ngã trên mặt đư ờng nhựa phía bên trái Quốc lộ 20 theo h ư ớng Lâm Đồng về Dầu Giây. Tâm bánh trư ớc và bánh sau của xe mô tô do T điều khiển cách mép lòng đư ờng bên trái lần l ư ợt là 6m70, 5m30; tâm bánh trư ớc và bánh sau của xe đạp ông Đ cách mép lòng đư ờng bên trái lần l ư ợt là 4m10 và 4m10 (h ư ớng bên trái nêu trên đư ợc tính theo chiều l ưu hành c ủa xe ô tô do T điều khiển).
Hậu quả: ông Nguyễn V ăn Đ chết trên đư ờng đi cấp cứu.
Tại bản kết luận
giám định số 05/PC45 -KLGĐPY ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh
ĐN xác định nguyên nhân chết của ông Phạm V ăn Đ là do sốc mất máu do chấn th ương vùng b ụng hố chậu dập rách mạc treo ruột, gã y khung xương ch ậu.
Nguyên nhân lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông: Do Trần Thanh
T điều khiển xe mô tô biển số 60B3 -520.08 không như ờng đư ờng cho ng ư ời đi bộ qua đư ờng.
Cáo trạng số 40/CT-VKS-TP ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện TP, tỉnh ĐN truy tố bị cáo Trần Thanh T về tộ i “Vi phạ m quy đị nh về tham gia giao thông đư ờ ng bộ ” theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 260 củ a Bộ luậ t Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
TP giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đư ờng bộ”; đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi th ư ờ ng thiệt hại, khắc phục hậu quả
; bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình. Phần luận tội, Kiểm
sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Vi phạ m quy đị nh về tham gia giao thông đư ờ ng bộ ”; áp dụng khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 6 5 Bộ luật Hình sự n ăm 2015 xử phạt bị cáo Trần Thanh T mức án từ 12 (Mư ời hai) đến 14 (M ư ời bốn) tháng tù, cho hư ởng án treo .
Tại phiê n tòa: Bị cáo thừa nhận do điều khiển xe mô tô không như ờng đư ờng cho ng ư ời đi bộ qua đư ờng nên đã đụng vào ông Phạm V ăn Đ đang dắt bộ xe đạp từ bên phải
đư ờng sang bên trái đư ờng gây tai nạn giao thông. Hậu quả ông Phạm V ăn Đ tử vong. Sau khi tai nạn xảy ra, bản thân bị cáo và gia
đình mình đã thỏa Th bồi th ư ờng xong cho phía bị hại.
Bị cáo nhận thức h ành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xé t xử xem xét giảm nhẹ hình phạt , tạo điều kiện cho bị cáo sớm về
hòa nhập với xã hội .
Trong quá trình điều tra, ông Phạm Tiến
D đại diện cho bị hại trình bày: Ông là con ruột của ông Phạm V ăn Đ và bà Trần Thị Th. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03 ngày 01 tháng 2018, ông Đ dắt xe đạp sang đư ờng thì bị Trần Thanh
T điều khiển xe mô tô đụng phải làm ông Đ tử vong. Sau khi tai nạn xảy ra, bản thân anh T và gia đình đã tới chia buồn và bồi th
ư ờng thỏa đáng nên gia đình ông đã thống nhất làm đơn b ãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho anh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, c
ăn cứ vào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử nhận
định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan đi ề u tra Công an huyện TP, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện
TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngư ời đại diện hợp pháp của bị hại, ng
ư ời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của C ơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan ti ến hành tố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, ng ư ời đại diện hợp pháp của ng
ư ời bị hại là bà Trần Thị Th (vợ của ông Đ); ông Phạm V ăn H, ông Phạm Duy L, ông Phạm Duy Kh, bà Phạm Thị L, bà Phạm Thị Q (là các con của ông Đ) có văn bản ủy quyền cho ông Phạm Tiến D cũng là con trai của ông Đ đại diện. Tuy nhiên, nội dung và phạm vi ủy quyền không rõ ràng. Do đó, văn bản ủy quyền của
bà Th, ông H, ông L, ông Kh, bà L, bà Q cho ông D đại diện tham gia tố tụng
là không đư ợc chấp nh ận ở giai đoạn xét xử s ơ th ẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu nào khác và thừa
nhận to àn bộ hành vi phạm tội.
Lời khai nhận tội của bị cáo
là phù hợp với lời khai của ngư ời đại diện hợp pháp của bị hại
và các chứng cứ khác có trong hồ s ơ vụ án , có đủ c ơ s ở đề Hộ i đồ ng xét xử xá c đị nh:
Vào lúc 09 giờ 45 phút, ngày 03 tháng 01 năm 2018 tại km 64 Quốc lộ 20
thuộc xã PT, huyện TP, Trần Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 60B3
-520.08 do không như ờng đư ờng cho ông Phạm V ăn Đ là ngư ời đi bộ qua đư ờng gây tai nạn giao thông. Hậu quả là ông Phạm V
ăn Đ tử vong .
Hành vi này đã vi phạm các quy tắc giao thông đư ờng bộ và là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông đư ờng bộ dẫn
đến hậu quả chết ng
ư ời. Nh ư vậy, hành vi do bị cáo thực hiện
đã đủ yếu tố
cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đư ờng bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và
điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngư ời đúng tội.
Tội phạm do bị cáo gây r a là nguy hiểm cho xã hội, với lỗi vô ý, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông,
gây thiệt hại cho tính mạng của ông Phạm Văn Đ. Hành vi của bị cáo không những gây hoang mang trong cộng đồng dân cư nơi x ảy ra vụ án, mà còn ảnh h ư ởng xấu đến việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị tại địa ph ương. V ì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt t ương xứng với tính chất, mức
độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo
đã gây ra.
Trong quá trình điều tra, ng ư ời đại diện hợp pháp cho bị hại có
Đơn đ ề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo
T. Tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định nh ư sa u:
“3. Ngư ời thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng
do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của ng ư ời khác và đư ợc ng ư ời bị hại hoặc ng
ư ời đại diện của ng ư ời bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể
đư ợc miễn trách nhiệm hình sự ”.
Tuy nhiên, để n âng cao ý thức của ng ư ời tham gia giao thông, phục vụ
nhiệm vụ chính trị của
địa ph ương nên H ội đồng xét xử quyết
định không miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết t ăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hì
nh sự, nhân thân bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết t ăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi th
ư ờng thiệt hại là những tình tiết giảm nhẹ đư ợc quy định tại các điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, còn xem xét bị cáo phạm tội lần
đầu , có nhân thân tốt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, đại diện hợp pháp cho
bị hại yêu cầu giảm nhẹ
mức hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đư ợc quy định tại khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đư ợc quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cá o có nơi cư trú c ụ thể, rõ ràng và có nhân thân tốt. Có khả n ăng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo
đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh h ư ởng xấu đến việc đấu tranh phòng, chống tộ i phạm ; thể hiện trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đư ợc c ơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp
Cấm đi khỏi n ơi cư trú . Đối chiếu các điều kiện áp dụng án treo đư ợc quy định tại Nghị quyết số
02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối ca o ngày 15 tháng 5 năm 2018 thì bị cáo có đủ điều kiện đư ợc h ư ởng án treo .
Do bị cáo là lao động chính trong gia đình, là lao động làm thuê, có hoàn cảnh kinh tế khó kh ăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về các biện pháp t ư pháp:
Về xử lý vật chứng:
Các xe liên quan đến tai nạn giao thông đã đư ợc Cơ quan đi ều tra trả cho ngư ời sử dụng hợp pháp
. Giấy phép lái xe số 750163010256 mang tên Trần Thanh T do Sở Giao thông vậ n tải tỉnh ĐN cấp ngày 20 tháng 6 năm 2016 cũng đã trao trả lại cho bị cáo T. Vì vậy , Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệ m dân sự : Gia đình bị cáo và đại diện hợp pháp của bị
hại ông Phạm V ăn Đ đã tự thỏa Th về chi phí mai táng và bồi th ư ờng . Đạ i diệ n hợ p pháp củ a bị hạ i không yêu cầ u bồ i thư ờ ng gì thêm và có đơn không yêu c ầ u về trách nhiệ m dân sự cho bị cáo.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ
-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ờng vụ Quốc hội
, thì bị cáo phải chịu án phí hình sự s
ơ thẩm .
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc
đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp với nhậ
n định trên của Hội
đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊN H:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 , khoản 2 Điều 51, Điều 6 5 của Bộ luật H ình sự n ăm 2015;
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số
02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 15 tháng 5 năm 2018;
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ
-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đư ờng bộ” .
Xử phạt: Bị cáo
Trần Thanh T 01 (Một) n ăm tù, cho hư ởng án treo.
Thời g ian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Thanh T cho Ủy ban nhân dân Thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trư ờng hợp ng ư ời đư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì thực hiện th eo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ư ời đư ợc h ư ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết
định buộc ng ư ời đư ợc h ư ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án
đã cho hư ởng án tre o.
Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự s ơ th ẩm .
Trư ờng hợp bản án, quyết
định đư ợc thi hành theo quy tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ư ời đư ợc thi hành án, ng ư ời phải thi hành án có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c
ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 , 7a và Điều 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án đư ợc thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung n ăm 2014).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ( Mư ời lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Ngư ời đại diện hợp pháp cho bị hại
có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mư ời l ăm) ngày tính từ ngày nhận đư ợc bản sao bản án
hoặc bản án đư ợc niêm yết. Nơi nh ận :
| - TAND tỉnh ĐN; - VKSND tỉnh ĐN; - VKSND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Sở t ư pháp t ỉnh ĐN; - Bị cáo, ng ư ời tham gia tố tụng khác; - Lưu h ồ s ơ v ụ án, án v ăn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM THẨM P HÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Thạnh |