- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị T "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc TỈNH HẢI DƯƠNG | |
Số: 50/2018/HS-ST Ngày: 13/03/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thuý. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bắc, bà Nguyễn Thị Liên. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm- Kiểm sát viên. Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo: Lò Thị L, sinh năm 1985. ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái. Chỗ ở: Không cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 4/12. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con «ng Lò Văn Ư và bà Hà Thị H. Có chồng là Hà Văn D và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2017 đến ngày 28/12/2017 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt. * Người làm chứng: - Anh Trần Văn V, sinh năm 1983. Trú quán: Số 112 phố Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt. - Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1988. Vắng mặt. - Anh Trần Văn Q, sinh năm 1978. Vắng mặt. Đều trú quán: Khu 3, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/12/2017, Lò Thị L đi ra khu vực ga tàu thành phố H mua 01 túi ma tuý đá của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 2.000.000đ rồi cất giấu trong người nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 22/12/2017, khi L đi đến khu vực ngõ 2 phố C, phường T, thành phố H thì bị lực lượng Công an kiểm tra. L đã cho gói ma tuý vào trong miệng nuốt, lực lượng Công an đưa L đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kiểm tra. Hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an cùng với y, bác sỹ tại khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đã gắp tại vùng họng của L ra 01 túi nilon màu trắng có kích thước (4 x 4)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Tại kết luận giám định số 68/KLGĐ-PC54 ngày 25/12/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất tinh thể màu trắng ghi thu của Lò Thị L có trọng lượng là 4.828 gam, là loại Methamphetamine. Hoàn lại 4.680 gam Methamphetamine sau giám định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Thị L khai nhận hành vi mua và cất giấu 01 gói ma tuý đá nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời như đã nêu trên. Không xác định được đối tượng bán ma túy cho L. Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSTPHD ngày 09/02/2018, VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Lò Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố Lò Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt Lò Thị L từ 39 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2017. Tịch thu cho tiêu huỷ 4.680 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 22/12/2017, tại khoa cấp cứu của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương (địa chỉ: Khu 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương), Lò Thị L có hành vi cất giấu trái phép 4.828 gam Methamphetamine trong người nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm
chế độ quản lý của Nhà nước về việc trao đổi các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác gây mất trật tự an ninh xã hội. Bị cáo là người có năng lực TNHS, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn hưởng lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng việc đi mua ma túy rồi cất giấu trong người để bán lại cho người khác kiếm lời. Lượng ma tuý bị cáo cất giấu nhằm bán trái phép là 4.828 gam Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999, nay là khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015. Vì vậy VKSND thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật. [2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên đòi hỏi pháp luật phải xử lý nghiêm, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện vào ngày 22/12/2017 nên HĐXX sẽ xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ TNHS và quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Không xác định được đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. [3] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [4] Về vật chứng: 4.680 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. [5] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo luật định. [6] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng đó. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Lò Thị L 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2017. 3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 4.680 gam Methamphetamine đựng trong phong bì niêm phong số 68/KLGĐ-PC54. Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội. Buộc Lò Thị L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. 5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/3/2018)./. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: - VKSND TP. Hải Dương; - Công an TP. Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam, bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thuý |