- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2018/HS-ST Ngày 22-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lường Thị Phẩm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Duyên
2. Ông Phạm Văn Ngọ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Triệu Giang, là Thư ký Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2018, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2018/HSST, ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn BM, xã NC, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị G; Có vợ là Mã Thị Kim C; Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Bà Ma Thị E (đã chết) Đại diện hợp pháp của bà E: Ông Mã Văn K, sinh năm 1976 (vắng mặt).
2. Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn ĐQ, xã YT, huyện PL, tỉnh Thái Nguyên.
3. Mã Văn Q, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2012 (vắng mặt).
Người giám hộ của cháu Mã Văn Q: Triệu Đức T, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn TT, xã CK, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Bắc Kạn. Điạ chỉ: Phường Đức Xuân, TP Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt do đề nghị không tham gia phiên tòa.
Người làm chứng:
1.Nguyễn Thế H, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn NL, xã NC, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn.
2. Hoàng Văn N, sinh năm 1986, địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn CR, huyện BB, tỉnh Bắc Kạn.
3. Nguyễn Anh T, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn NL, xã QT, huyện BT, tỉnh Bắc Kạn.
4. Hoàng Thị T, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện CĐ , tỉnh Bắc Kạn.
5. Trương Văn T, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn.
6. Lâm Hoàng P, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện CĐ, tỉnh Bắc Kạn.
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 10 phút, ngày 06/6/2018, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô khách BKS: 97B- 000.02, trên xe có khoảng 10 hành khách từ xã Nam Cường, huyện CĐ đi hướng thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến địa phận thuộc thôn CP, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn thì Huấn phát hiện xe mô tô BKS: 20E1-188.42 do Hoàng Thị H điều khiển đang đi cùng chiều phía trước, cách xe ô tô do H điều khiển khoảng 10 mét, trên xe mô tô có chở theo cháu Mã Văn Q và bà Ma Thị E. H đã điều khiển xe ô tô vượt lên, nhưng trước khi vượt, H không bấm còi xe ô tô và không bật xi nhan làm tín hiệu xin vượt, do đó chị Hoàng Thị H không biết có xe phía sau xin vượt nên chưa điều khiển xe mô tô tránh về phía bên phải theo chiều đi của mình nên khi xe ô tô do H điều khiển vượt ngang với xe mô tô do Hoàng Thị H điều khiển đã va chạm sườn bên phụ của xe ô tô với đầu gối bên trái của bà Ma Thị E đang ngồi phía sau trên xe mô tô do chị H điều khiển, làm xe mô tô và những người ngồi trên xe ngã xuống đường. Bà E bị bánh xe phía sau bên phụ của xe ô tô BKS: 97B-000.02 cán qua người bị tử vong tại chỗ; cháu Q và chị H bị đau nhẹ.
Sau khi tai nạn xảy ra, các cơ quan chức năng đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn.
Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 121 + 874 đường QL3 thuộc thôn CP, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
Qua khám nghiệm hiện trường, các số đo về lòng, lề đường và vị trí các vết cà trượt của các phương tiện xác định điểm đâm va giữa hai xe là tại phần đường bên phải hướng Hà Nội - Cao Bằng. Là đoạn đường thẳng, dốc lên 20 theo hướng Cao Bằng – Hà Nội, mặt đường được trải nhựa áp phan, khô ráo, không trơn trượt, không bị che khuất tầm nhìn từ hai hướng, giữa đường có vạch sơn trắng đứt đoạn phân chia làn đường. Lòng đường rộng 6,30m, lề phải hướng Cao Bằng - Hà Nội rộng 0,80m, tiếp đến là rãnh thoát nước và ta luy dương, lề trái rộng 0,60m.
Về giám định kỹ thuật xe: Tại biên bản giám định kỹ thuật xe ngày 15/6/2018 của Hội đồng thẩm định kỹ thuật phương tiện CGĐB tỉnh Bắc Kạn kết luận: Xe ô tô BKS: 97B-000.02 tại thời điểm xảy ra tai nạn hệ thống an toàn của xe như hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn, còi điện đảm bảo an toàn kỹ thuật; thời hạn Giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện cơ giới đường bộ số đối với xe ô tô BKS: 97B-000.02 còn hiệu lực.
Thiệt hại do tai nạn xảy ra gồm:
* Thiệt hại về tính mạng: Tại Bản giám định số 17/GĐYP, ngày 08/6/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bắc Kạn kết luận: Bà Ma Thị E chết do đứt tủy cổ, nguyên nhân do gãy trật cột sống cổ.
* Thiệt hại về sức khỏe: Trong vụ án này, sau khi xảy ra tai nạn, cháu Ma Văn Q và bà Hoàng Thị H bị đau nhẹ không phải điều trị tại bệnh viện.
* Thiệt hại về tài sản: Sau khi xảy ra tai nạn, xe ô tô BKS: 97B-000.02 và xe mô tô BKS 20E1-188.42 bị xây xước nhẹ. Tuy nhiên, chủ sở hữu các xe trên không yêu cầu định giá và không yêu cầu bồi thường do không có thiệt hại xảy ra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và giám định kỹ thuật xe.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSCM ngày 16/10/2018 của VKSND huyện Chợ Mới truy tố bị cáo Nguyễn Văn Huấn về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Nguyễn Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 260; Điều 35; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 30.000.000đ đến 50.000.000đ.
- Biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Nguyễn văn H.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Tai nạn xảy ra là do bị cáo vô ý, sơ suất, bị cáo rất ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền ở mức thấp nhất để bị cáo có điều kiện tiếp tục hành nghề đảm bảo cuộc sống của gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 10 phút, ngày 06/6/2018, Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô BKS: 97B - 000.02 từ xã NC, huyện CĐ đi hướng thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Khi đi đến địa phận thôn CP, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, H phát hiện xe mô tô BKS: 20E1-188.42 do bà Hoàng Thị H điều khiển đi cùng chiều, H đã điều khiển xe ô tô vượt lên. Tuy nhiên, trước khi vượt đã không chấp hành Luật giao thông đường bộ quy định về vượt xe (không có báo hiệu bằng đèn hoặc còi), chị H chưa điều khiển xe mô tô đi về bên phải để nhường đường, vì vậy khi H điều khiển xe vượt lên đã va chạm sườn bên phụ của xe ô tô với đầu gối bên trái của bà Ma Thị E đang ngồi phía sau trên xe mô tô làm xe mô tô do chị H điều khiển và những người ngồi trên xe ngã xuống đường. Hậu quả, bà E bị bánh xe phía sau bên phụ của xe ô tô BKS: 97B-000.02 cán qua người bị tử vong tại chỗ.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H đã vi phạm Điều 14 Luật Giao thông đường bộ. Điều luật có nội dung như sau:
“Điều 14. Vượt xe
1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; ……
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
………
5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;”
Như vậy hành vi nêu trên Nguyễn Văn H đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 260/BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nội dung:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người”.
Cáo trạng số 32/CT-VKSCM ngày 16/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác và phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Tại khoản 5 điều 260/BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Trong vụ án này nghề nghiệp chính của bị cáo là hành nghề lái xe, mặt khác tai nạn xảy ra hoàn toàn là do lỗi vô ý, vì vậy xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền để bị cáo có điều kiện tiếp tục hành nghề, đảm bảo cuộc sống cho gia đình bị cáo, đồng thời mang tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ. Nay gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bà Hoàng Thị H và cháu Mã Văn Q: Mặc dù tai nạn xảy ra làm bà H và cháu Q ngã ra đường, nhưng chỉ bị đau nhẹ, không phải điều trị, nay không yêu cầu bồi thường.
Đối với chiếc xe ô tô BKS: 97B-000.02 và xe mô tô BKS: 20E1-188.42 không bị hư hỏng, chủ sở hữu ông Nguyễn Đình H - Giám đốc Hợp tác xã vận tải Thống Nhất và bà H không yêu cầu bồi thường, vì vậy không xem xét.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Bắc Kạn và bị cáo không yêu cầu giải quyết bồi thường trách nhiệm dân sự giữa hai bên, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng trong vụ án: 01 xe ô tô BKS: 97B - 000.02; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 97B - 000.02; 01 giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT phương tiện cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS: 97B-000.02; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô BKS: 97B - 000.02; 01 xe mô tô BKS: 20E1-188.42; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 20E1-188.42; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô BKS: 20E1-188.42; 01 Giấy phép lái xe mô tô số AF 177736 mang tên Hoàng Thị H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, xét thấy là phù hợp.
Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng D số: 060063000056 mang tên Nguyễn Văn H, cần trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 35; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo số tiền là: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số: 060063000056 mang tên Nguyễn Văn H.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt bà Hoàng Thị H, ông Triệu Đức T, ông Mã Văn K, Công ty bảo hiểm Bảo Việt Bắc Kạn. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bà Hoàng Thị H, ông Triệu Đức T, ông Mã Văn K, Công ty bảo hiểm Bảo Việt Bắc Kạn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện CM; - Công an huyện CM; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Bị hại; Đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lường Thị Phẩm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |