- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 50/2018/HNGĐ-ST"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị N và anh Trần Xuân T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2018/HNGĐ-ST Ngày: 13-9-2018 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hữu Thiện;
2. Bà Trịnh Thúy Cơ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát Viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm: 1988. Địa chỉ cư trú: Khu phố 4, thị trấn D, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ tạm trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Xuân T, sinh năm: 1988. Địa chỉ cư trú: Khu phố 4, thị trấn D, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07-3-2018 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Võ Thị N trình bày: Chị và anh Trần Xuân T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T thường đi làm xa nhà, không quan tâm chăm sóc vợ con, không dành thời gian cho gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Ngoài ra, anh T còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chị bắt gặp và anh T cũng thừa nhận có quan hệ lăng nhăng bên ngoài. Chị đã nhắc nhở và tha thứ nhiều lần nhưng anh T vẫn không thay đổi.
Về hôn nhân: Chị N xác định vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân không thể tiếp tục nên yêu cầu xin ly hôn với anh T
Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Ngọc Khả H, sinh ngày: 28-10 2008, hiện con chung đang sống với chị N. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyê ̣n Dương Minh Châu phát biểu ý kiến:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Tại Tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về tố tụng.
Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia giải quyết vụ án cũng như tại Tòa hôm nay nhưng vẫn vắng mặt không lý do, xem như từ chối quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Ðề nghị Hội đồng xét xử
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị N đối với anh Trần Xuân T.
2. Về con chung: Giao chị N tiếp tục nuôi dưỡng con tên H.
Ghi nhận: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về Tố tụng: Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng đối với bị đơn anh Trần Xuân T theo đúng quy định pháp luật nhưng đến giờ này anh T vẫn vắng mặt, xem như anh T từ bỏ quyền yêu cầu của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của chị N, xét lời trình bày của chị N xác định chị và anh T tự nguyện chung sống vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29-11-2008 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp theo đúng quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Quá trình giải quyết và tại Tòa hôm nay, chị N giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T. Xét thấy: Chị N và anh T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008. Vợ chồng chung sống, chị N nhận thấy không hạnh phúc, thường xuyên cãi vả do anh T không lo làm ăn. Vợ chồng ly thân từ đầu năm 2017 đến nay, anh T không liên lạc thăm hỏi vợ con, không có thiện chí vợ chồng đoàn tụ.
Xét thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ.
Về con chung: Anh chị có 01 (một) con chung tên Trần Ngọc Khả H, sinh ngày: 28-10 2008.
Quá trình giải quyết và tại Tòa hôm nay, chị N yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con của chị N là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, quá trình ly thân cháu H sống với chị N, cháu H khỏe mạnh, vẫn phát triền bình thường. Hơn nữa, quá trình làm việc nguyện vọng cháu H xin sống với chị N. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N là phù hợp pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 4 Điều 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị N và anh Trần Xuân T.
Chị N và anh T không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con tên Trần Ngọc Khả H, sinh ngày: 28-10- 2008
Ghi nhận: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Ngọc đã nộp theo biên lai thu số 0010527 ngày 14-5-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; chị N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Chị N có mặt tại Toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh T vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.DMC; - CCTHA H.DMC; - Đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa Phiên tòa (Đã ký) Đào Thị Hiền |