- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV khởi kiện ông Đặng Văn H vi phạm hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50 /2018/DS-ST Ngày 15 /5 /2018 Về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lương Văn Hải
+ Ông Nguyễn Văn Tươi
- Thư ký phiên toà: ông Hồ Quốc Việt – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia
phiên tòa: Bà Đỗ Thi Thương- Kiểm sát viên .
Ngày 15 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở, Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2017/TLST-DS ngày 26/12/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/QĐXXST-DS ngày 29/3/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐST-DS, ngày 20/4/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Tài Chính TNHH Một Thành viên Ngân hàng VNTV (VPB
FC).
Trụ sở: Số 9, Đoàn Văn B, P.12, quận 4, TP. HCM.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Phạm Trung H1, sinh năm: 1984, địa chỉ: Số 353
NTP, quận HC, thành phố ĐN, theo Văn bản uỷ quyền số 3861 ngày 18 tháng 4 năm 2018. (Có mặt)
Bị đơn: anh Đặng Văn H2 - Sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn TQ 2, xã ĐTT, thị xã ĐB, tỉnh QN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai của đại diện nguyên đơn, anh Phạm Trung H1
trình bày:
Vào ngày 23/5/2016, anh Đặng Văn H2 ký hợp đồng tín dụng số 20160520-500000-
3280 với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (VPB FC) vay số tiền 26.375.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,75%/ tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, anh H2 có trách nhiệm thanh toán số tiền là 49.488.000 đồng (gồm cả lãi và gốc), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng. Theo đó, 35 tháng đầu mỗi tháng thanh toán 1.347.000đ, tháng cuối cùng thanh toán 2.303.000đ. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 01/7/2016.
Thực hiện Hợp đồng, anh H2 đã nhận đủ số tiền vay để tiêu dùng cá nhân và thanh
toán cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV 02 lần với số tiền 2.694.000đ. Trong đó, tiền gốc đã trả: 455.656đ, tiền lãi đã trả: 2.238.344đ. Kể từ ngày 09/8/2016, anh H2 không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Vì vậy, Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H2 thanh toán 01 lần cả gốc và lãi với số tiền 40.119.670 đồng, trong đó: tiền gốc 25.919.344đ (gốc tới hạn 8.698.674đ, gốc chưa tới hạn: 17.220.670đ); tiền lãi 14.200.326đ. Tiền lãi chỉ tính đến ngày 01/01/2018 và không tiếp tục tính lãi theo hợp đồng. Khi Bản án có hiệu lực pháp luật đề nghị tính lãi chậm thanh toán theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Bị đơn, anh Đặng Văn H2 vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án nên không có lời khai
tại hồ sơ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải
quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã triệu tập đúng quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Buộc anh
Đặng Văn H2 phải trả cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV số tiền nợ 40.119.670 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận
định:
Về tố tụng: Nguyên đơn Công ty Tài Chính TNHH Một Thành viên Ngân hàng
VNTV (VPB FC) khởi kiện đối với anh Đặng Văn H2 có nơi cư trú thôn TQ 2, xã ĐTT, thị xã ĐB, tỉnh QN. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được tống đạt đúng theo quy
định. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xử vắng mặt đối với bị đơn.
Vào ngày 23/5/2016, anh Đặng Văn H2 ký hợp đồng tín dụng số 20160520-
500000-3280 với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng VNTV (VPB FC) vay số tiền 26.375.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,75%/ tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, anh H2 có trách nhiệm thanh toán số tiền là 49.488.000 đồng (gồm cả lãi và gốc), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng. Theo đó, 35 tháng đầu mỗi tháng thanh toán 1.347.000đ, tháng cuối cùng thanh toán 2.303.000đ. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ 01/7/2016.
Thực hiện Hợp đồng, anh H2 đã nhận đủ số tiền vay để tiêu dùng cá nhân và thanh
toán cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV 02 lần với số tiền 2.694.000đ. Trong đó, tiền gốc đã trả: 455.656đ, tiền lãi đã trả: 2.238.344đ. Kể từ ngày 09/8/2016, anh H2 không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào, dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Vì vậy, Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh H2 thanh toán 01 lần cả gốc và lãi với số tiền 40.119.670 đồng, trong đó: tiền gốc 25.919.344đ (gốc tới hạn 8.698.674đ, gốc chưa tới hạn: 17.220.670đ); tiền lãi 14.200.326đ. Tiền lãi chỉ tính đến ngày 01/01/2018 và không tiếp tục tính lãi theo hợp đồng. Khi Bản án có hiệu lực pháp luật đề nghị tính lãi chậm thanh toán theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Do anh Đặng Văn H2 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng vay,
vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh H2 thanh toán cả gốc và lãi với số tiền 40.119.580 (tiền lãi đã tính đến ngày 01/01/2018) cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV. Đại diện nguyên đơn không tiếp tục tính lãi theo hợp đồng từ ngày 01/01/2018. Khi Bản án có hiệu lực pháp luật yêu cầu tính lãi chậm thanh toán theo quy định của Bộ luật Dân sự. Yêu cầu này của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 463,466,468 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91 của
Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV đối với
anh Đặng Văn H2.
1. Buộc anh Đặng Văn H2 phải trả cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV số
tiền nợ 40.119.670 đồng (trong đó: tiền gốc 25.919.344đ, tiền lãi 14.200.326đ).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
2.Về án phí: anh Đặng Văn H2 phải chịu 2.005979 đồng án phí DSST.
Hoàn lại cho Công ty TNHH MTV Ngân hàng VNTV số tiền tạm ứng án phí là
913.000 đồng theo Biên lai thu số 0008801 ngày 26/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND thị xã Điện Bàn - Các đương sự - THADS thị xã Điện Bàn - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Minh Tân |