vanban.org

Bản án 50/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1.

Về con chung: 1. Giao con chung tên Phạm Thảo L, nữ, sinh ngày 19/9/2011 (hiện đang sống chung với bà Mã Kim T) cho bà Mã Kim T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mã Kim T và Phạm Tấn T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2017.
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi
ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước.

Ông Phan Văn Tạo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2017/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2017 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mã Kim T, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: đường T, khóm A, phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: đường K, khóm N, phường M, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Phạm Tấn T, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: đường T, khóm A, phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Mã Kim T trình bày:

Vào năm 2010 bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1 kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60/2010 quyển số 19 ngày 23/10/2010. Quá trình chung sống ông, bà có một người con chung tên Phạm Thảo L (nữ, sinh ngày 19/9/2011), hiện cháu L do bà trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời có tạo lập được tài sản chung nhưng ông, bà tự thỏa thuận và không có nợ chung. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, ông T1 không quan tâm chăm sóc gia đình, bà đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Tấn T1.

Về con chung: Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thảo L (nữ, sinh ngày 19/9/2011) và không yêu cầu ông Phạm Tấn T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1 tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Mã Kim T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 19/7/2017, bị đơn ông Phạm Tấn T1 trình bày:

Ông đồng ý ly hôn với bà Mã Kim T vì ông không còn tình cảm với bà T.

Về con chung: Ông đồng ý giao con chung tên Phạm Thảo L, nữ sinh ngày 19/9/2011 cho bà Mã Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi, ông không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông và bà Mã Kim T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Ông tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, vì ông bận công việc gia đình nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, phiên tòa sơ thẩm.

- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng cho rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn ông Phạm Tấn T1 không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Phạm Tấn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 2, Điều 227, Khoản 3, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Tấn T1.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Mã Kim T: Quan hệ hôn nhân của bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1 không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau thời gian chung sống thì bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tại tòa bà T xác định không còn tình cảm với ông T1, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn và kiên quyết xin ly hôn với ông T1, ông T1 cũng đồng ý ly hôn vì không còn tình cảm với bà T. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Ông T1 đồng ý giao con chung tên Phạm Thảo L (nữ, sinh ngày 19/9/2011) cho bà Mã Kim T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Xét thấy, cháu L hiện đang sống chung với bà T, nên cần giao cháu L cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Mã Kim T không yêu cầu ông Phạm Tấn T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ông Phạm Tấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Như đã phân tích nêu trên, lời đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Mã Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại tại Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a, Khoản 1 Điều 35, Khoản 2, Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ: Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung tên Phạm Thảo L, nữ, sinh ngày 19/9/2011 (hiện đang sống chung với bà Mã Kim T) cho bà Mã Kim T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu L đủ 18 tuổi.

2.2. Ông Phạm Tấn T1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Phạm Tấn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Phạm Thảo L theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Mã Kim T và ông Phạm Tấn T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Mã Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007126 ngày 18/5/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; Bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Ông Phạm Tấn T1 không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ