- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án P-T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận là vợ chồng giữa chị Đặng Thị P và anh Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2017/HNGĐ-ST Ngày 19-9-2017. V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Công
Ông Nguyễn Quang Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 154/2017/TLS-HNGĐ, ngày 10 tháng 8 năm 2017 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2017/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị P, có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, vắng mặt.
Cùng trú tại: Thôn K, xã T, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đặng Thị P trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương năm 2008 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm đầu, sau đó thì phát sinh mấu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh T có mối quan hệ với người phụ nữ khác và còn ham mê cờ bạc nên về nhà thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị. Sự việc đã được gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả . Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh T.
Về con chung: Chị Đặng Thị P và anh Hoàng Văn T và có 02 con tên là Hoàng Thị Vân A, sinh ngày 15/11/2009 và Hoàng Duy H, sinh ngày 05/11/2011. Ly hôn, chị P nhận trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Hoàng Văn T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo anh đến để hòa giải về vấn đề nuôi con chung, mặc dù đã được Tòa án thông báo đến để giải quyết ly hôn nhưng anh vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Toà án đã hoàn thiện các thủ tục và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên là đúng thẩm quyền về lãnh thổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Thư ký và Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 và Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Đặng Thị P và anh Hoàng Văn T về chung sống với nhau tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là không hợp pháp vì không tuân thủ các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”
Như vậy chị P và anh T chung sống với nhau từ năm 2008 đến nay không có đăng ký kết hôn, nay chị P có đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Đối chiếu với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu của chị P là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị Đặng Thị P và anh Hoàng Văn T có 02 con tên là Hoàng Thị Vân A, sinh ngày 15/11/2009 và Hoàng Duy H, sinh ngày 05/11/2011. Ly hôn, theo nguyện vọng của cháu Vân A và chị P cũng nhận trực tiếp nuôi cả 02 con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hội đồng xét xử nhận thấy là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Đặng Thị P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là đúng pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 14; các Điều 15, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 206, khoản 1 Điều 207, Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận là vợ chồng giữa chị Đặng Thị P và anh Hoàng Văn T.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Đặng Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con là Hoàng Thị Vân A, sinh ngày 15/11/2009 và Hoàng Duy H, sinh ngày 05/11/2011. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P nhưng có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản anh thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Đặng Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2013/06388, ngày 10/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, chị Đặng Thị P có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. [
| Nơi nhận - TAND tỉnhYên Bái; - VKSND huyện Lục Yên; - THADS huyện Lục Yên; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đăng Ninh |