vanban.org

Bản án 498/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân; được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Lê Chiến T"
  • Tòa quyết gì? 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2025/DS-ST
Ngày 17-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Xuân Đào;

Ông Võ Thái Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 804/2024/TLST-DS ngày 14

tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 178/2025/QĐXXST-DS

ngày 28 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 215/2025/QĐST-DS

ngày 25 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trụ sở: Đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là

phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Văn T, địa chỉ:

Đường N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H,

Thành phố Hồ Chí Minh); là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn

bản ủy quyền ngày 04/11/2024) (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Chiến T (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp D (ấp Đ cũ), xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay

là xã L, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2024 và lời khai của người đại diện hợp

pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T thì:

Ngày 16/5/2023, ông Lê Chiến T ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023). Căn cứ vào thu nhập của ông T, ngày 31/5/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp cho ông T thẻ tín dụng Visa số 436438-5444 với hạn mức sử dụng là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số

tiền là 99.100.000đ (chín mươi chín triệu một trăm nghìn đồng).

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T

đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 15.186.797đ (mười lăm triệu một trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng), thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và

Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông T không có thiện chí trả nợ nên ngày 26/02/2024 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng) sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc – số nợ quá hạn nêu trên (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn 2.48%) là 3.72%/tháng.

Tính đến ngày 17/9/2025, ông T còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

các khoản sau: Nợ gốc là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 78.159.540đ (bảy mươi tám triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi đồng), tổng cộng là 188.652.374 (một trăm tám mươi tám triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng).

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông T phải thanh

toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023 tính đến ngày 17/9/2025 là 188.652.374 (một trăm tám mươi tám triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng), gồm nợ gốc là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 78.159.540đ (bảy mươi tám triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/9/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn – ông Lê Chiến T đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình

bày ý kiến.

Theo kết quả xác minh ngày 27/11/2024 của Công an xã P, huyện C, Thành

phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 3520/TAHBC ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân

dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư

trú của đương sự thì ông Lê Chiến T không thực tế cư trú tại địa chỉ Ấp D (ấp Đ

cũ), xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và đang cư ngụ tại ấp N xã O, huyện

Q tỉnh Long An.

Theo kết quả xác minh ngày 17/01/2025 của Công an xã Long Hậu, huyện

Cần Giuộc, tỉnh Long An tại Công văn số 3521/TAHBC ngày 15/10/2024 của Tòa

án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình

trạng cư trú của đương sự thì ông Lê Chiến T có hộ khẩu thường trú tại tổ 1, ấp 3,

xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An nhưng thực tế không còn cư trú tại

địa phương do nhà nằm trong diện giải tỏa, đền bù; ông T có khai báo thông tin về

nơi ở hiện tại tại địa chỉ C1/26, ấp 3, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh ngày 21/01/2025 của Công an xã O, huyện Q, tỉnh

Long An tại Công văn số 4318/TAHBC ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của

đương sự thì ông Lê Chiến T không có đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tại ấp

N xã O, huyện Q tỉnh Long An.

Theo kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí

Minh tại Công văn số 3116/TANDKV10 ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu

vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự

thì ông Lê Chiến T không thực tế cư trú tại địa chỉ ấp K, xã L, Thành phố Hồ Chí

Minh [ ấp M (ấp Đ cũ), xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh] và đang cư ngụ

tại ấp N xã O, huyện Q tỉnh Long An.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt Ông.

Bị đơn – ông Lê Chiến T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt

không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng

các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều năm 2025. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại khoản 1

Điều 196; khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa

đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực

hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung

một số điều năm 2025. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo

đúng quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được

sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Về án phí: Ông T phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi

kiện yêu cầu ông Lê Chiến T trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023. Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 31/5/2023 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông T theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng bằng văn bản nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Căn cứ kết quả xác minh ngày 27/11/2024 của Công an xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ngày 17/01/2025 của Công an xã Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã L, Thành phố Hồ Chí Minh và kết quả xác minh ngày 21/01/2025 của Công an xã O, huyện Q, tỉnh Long An thì ông T đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên

đơn – ông Dương Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn – ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023 (gồm Giấy đề

nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 31/5/2023, Bản điều khoản và

Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) có chữ

ký xác nhận của ông Lê Chiến T và đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

nên có cơ sở xác định ngày 31/5/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp

thẻ tín dụng cho ông T với hạn mức sử dụng là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng),

mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày

31/5/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông T là tự nguyện, không

vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu

lực.

Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 06/8/2025 thì trong quá trình thực

hiện hợp đồng, ông T đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày 25/6/2023 với tổng

số tiền là 99.100.000đ (chín mươi chín triệu một trăm nghìn đồng), phí trễ hạn là

3.559.977đ (ba triệu năm trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng),

lãi là 100.258.132đ (một trăm triệu hai trăm năm mươi tám nghìn một trăm ba

mươi hai đồng), phí là 921.062đ (chín trăm hai mươi mốt nghìn không trăm sáu

mươi hai đồng). Ông T đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số

tiền là 15.186.797đ (mười lăm triệu một trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm chín

mươi bảy đồng). Sau khi trừ các khoản phải thanh toán theo thứ tự thanh toán được

quy định tại Điều 21 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín

dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S lần lượt là: Các khoản phí

và/hoặc lãi của kỳ trước, giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng

hóa của kỳ trước, các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong

kỳ, giao dịch mua hàng hóa trong kỳ thì số tiền ông T còn nợ tính đến ngày

26/02/2024 là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn

tám trăm ba mươi bốn đồng). Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày

26/02/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ

của ông T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 110.492.834đ (một trăm mười triệu

bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng) sang nợ quá hạn là phù

hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát

hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quy định tại

Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức

tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên có cơ sở

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông T

có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc còn lại là

110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba

mươi bốn đồng).

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi: Căn cứ Quyết định số

2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về

việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam;

mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện

phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023 là 2.48%/tháng. Mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 24.4 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng, tương đương 3.72%/tháng (2.48%/tháng x 150%). Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng) sang nợ quá hạn từ ngày 26/02/2024 và áp dụng mức lãi suất 3.72%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ thì số nợ lãi quá hạn tính đến ngày 17/9/2025 là 78.159.540đ (bảy mươi tám triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Ngân hàng Thương mại Cổ

phần S chỉ yêu cầu ông T có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông T thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện mục đích sử dụng khoản vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023 là tiêu dùng cá nhân; đồng thời, không có cơ sở xác định ông T đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu chung với ai khác nên không có cơ sở để buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông T.

Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S, buộc ông T có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 31/5/2023 tính đến ngày 17/9/2025 là 188.652.374 (một trăm tám mươi tám triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng), gồm nợ gốc là 110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 78.159.540đ (bảy mươi tám triệu một trăm năm mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi đồng) và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/9/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.432.619đ (chín triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm mười chín đồng); Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;

- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày

27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân;

- Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã

được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;

- Căn cứ vào Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội

đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định

của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng

12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần

S.

Buộc ông Lê Chiến T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày

31/5/2023 tính đến ngày 17/9/2025 là 188.652.374 (một trăm tám mươi tám triệu

sáu trăm năm mươi hai nghìn ba trăm bảy mươi bốn đồng), trong đó, nợ gốc là

110.492.834đ (một trăm mười triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn tám trăm ba

mươi bốn đồng) và lãi quá hạn là 78.159.540đ (bảy mươi tám triệu một trăm năm

mươi chín nghìn năm trăm bốn mươi đồng).

Kể từ ngày 18/9/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Lê Chiến T còn

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên

thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Chiến T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 9.432.619đ (chín triệu

bốn trăm ba mươi hai nghìn sáu trăm mười chín đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự

sơ thẩm đã nộp là 3.314.237đ (ba triệu ba trăm mười bốn nghìn hai trăm ba mươi

bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042924 ngày 10 tháng 10 năm

2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là

Thi hành án dân Thành phố Hồ Chí Minh).

Thi hành tại Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm

2014, 2018, 2020, 2022, 2024 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi

hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là

15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ