vanban.org

Bản án 497/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Diễm S.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Phan Thị Diễm S được ly hôn với ông Huỳnh Sơn H. Về con chung: 02 con tên Huỳnh Thị Triệu M, sinh 25/01/2004; Huỳnh Sơn H, sinh 07/01/2009. Giao 02 trẻ M, H cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Bà S không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị Diễm S trah chấp với ông Huỳnh Sơn H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Diễm S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:497/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN HÓC MÔN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Đẹp 2. Ông Dương Văn Quí

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phượng Nghĩa - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:75/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:42/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Phan Thị Diễm S, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 1/5 ấp Đ, xã X, huyện Hóc Môn, TP.HCM.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Sơn H, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: 1/5 ấp Đ, xã X, huyện Hóc Môn, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 21/11/2018, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Phan Thị Diễm S trình bày: Giữa nguyên đơn bà S và bị đơn ông Huỳnh Sơn H tự nguyện tìm hiểu, cưới và đăng ký kết hôn ngày 29/6/2005 tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã M, tỉnh Bình Dương.

Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, từ tháng 6 năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H không có trách nhiệm, sống vô tư không chăm sóc vợ con, ông gây nợ rồi để bà trả, vợ chồng ly thân từ tháng 9/2017 đến nay, bà không còn tình cảm gì với ông H, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Về quan hệ vợ chồng: Bà yêu cầu được ly hôn với ông H. Về con chung: 02 con tên Huỳnh Thị Triệu M, sinh 25/01/2004; Huỳnh Sơn H, sinh 07/01/2009. Sau khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S khai không có.

Bị đơn ông Huỳnh Sơn H: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Hóc Môn tham gia phiên tòa bà Lê Thị Mến phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định theo Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Về quan hệ vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng bà S và ông H trầm trọng; Về con chung: 02 con tên Huỳnh Thị Triệu M, sinh 25/01/2004; Huỳnh Sơn H, sinh 07/01/2009. Giao 02 trẻ M, H cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận việc bà S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Bà S khai không có. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Thị Diễm S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

-Về thẩm quyền: Tại thời điểm nguyên đơn bà Phan Thị Diễm S có đơn khởi kiện xin ly hôn và tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Sơn H, sinh năm 1977 - Địa chỉ: 1/5 ấp Đ, xã X, huyện Hóc Môn, TP.HCM, căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

-Về tố tụng: Ngày 24/4/2019 bà S có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn ông Huỳnh Sơn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự nhưng vắng mặt không lý do. Theo Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự theo quy định.

- Về nội dung vụ án:

1.Về quan hệ vợ chồng: Nguyên đơn bà Phan Thị Diễm S và bị đơn ông Huỳnh Sơn H đăng ký kết hôn ngày 29/6/2005 tại Ủy ban nhân dân phường M, thị xã M, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2005. Theo Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình xác định hôn nhân của bà S và ông H hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà S và ông H là có thật bởi lẽ: Trong quá trình giải quyết vụ án bà S trình bày trong quá trình chung sống ông H thường xuyên gây nợ nần, một mình bà trả nợ, ông bỏ mặc vợ con, tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 1224/2018/QĐST-HNGĐ ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn bà muốn tạo cơ hội để ông H sửa đổi đoàn tụ gia đình nhưng không được ông H không thay đổi gì, hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng, bà không còn tình cảm gì.

Xét về khả năng đoàn tụ gia đình giữa bà S và ông H là không có. Bởi vì bà S cương quyết ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ cho ông H nhưng ông H đều vắng mặt không lý do, điều này lại càng thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà S và ông H trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Hóc Môn là có cơ sở pháp lý.

Chính vì những phân tích nêu trên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Diễm S với bị đơn ông Huỳnh Sơn H.

Về con chung: 02 con tên Huỳnh Thị Triệu M, sinh 25/01/2004; Huỳnh Sơn H, sinh 07/01/2009. Trong quá trình giải quyết 02 trẻ M, H có nguyện vọng muốn ở với bà S nếu bà S ly hôn với ông H. Bà S yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét ghi nhận việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Bà S khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng: Bà S phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 110, 116,117,118 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị Diễm S.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Phan Thị Diễm S được ly hôn với ông Huỳnh Sơn H.

Về con chung: 02 con tên Huỳnh Thị Triệu M, sinh 25/01/2004; Huỳnh Sơn H, sinh 07/01/2009. Giao 02 trẻ M, H cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Bà S không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Vì lôïi ích cuûa con chung, sau khi ly hôn các bên coù quyeàn qua laïi thaêm nom, chaêm soùc, giaùo duïc con chung, khoâng ai ñöôïc caûn trôû hoaëc gaây aûnh höôûng xaáu ñeán quyeàn naøy. Khi caàn thieát coù quyeàn yeâu caàu Toøa aùn giaûi quyeát thay ñoåi ngöôøi nuoâi con hoaëc vieäc caáp döôõng nuoâi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà S khai không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng: Bà S phải chịu nhưng được cấn trừ theo biên lai đóng tiền tạm ứng án phí số 0003405 ngày 22/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà S đã đóng đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản sao hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ