- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN BÁ T - VI PHẠM VỀ QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 495/2025/HS-ST Ngày: 12/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đăng Vạn
2. Bà Võ Thị Gái
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 423/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 535/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Bá T; sinh năm 1990 tại tỉnh Thái Nguyên; CCCD số *** cấp ngày 12/4/2021; Thường trú và nơi ở hiện nay: khu phố N, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là xã H, tỉnh Lâm Đồng); Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá K (đã chết); Con bà Trần Thị T, sinh năm 1969; bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/6/2025 cho đến nay.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Ông Võ Duy Đ, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ (nay là xã Đ), Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Hợp tác xã Đ
Địa chỉ: số X Lô X, cư xá X, Phường X, Quận X (nay là phường X), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Xuân H, sinh năm 1981 (có mặt)
2/ Ông NLQ1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ (nay là xã Đ), Lâm Đồng.
3/ Bà NLQ2, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Chung cư X, đường X, phường L, thành phố X (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 12/02/2023, Nguyễn Bá T điều khiển xe ô tô tải hiệu KIA, biển số 51D-456.12 lưu thông trên đường Phạm Văn Đồng theo hướng đường Tô Ngọc Vân về đường Đào Trinh Nhất để đi chở hàng. Khi đến trước nhà số 1350, đường Phạm Văn Đồng, phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Linh Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh), do điều khiển xe không đúng làn đường, thiếu chú ý quan sát , không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, đã để phía trước đầu xe ô tô biển số 51D-456.12 do T điều khiển va chạm vào phía sau xe mô tô biển số 59D3-223.38 do anh Võ Duy Đ điều khiển, phía sau chở chị NLQ2 đang lưu thông phía trước cùng chiều làm xe mô tô, anh Đ, chị NLQ2 ngã xuống đường, anh Đ bị cuốn vào gầm xe ô tô. Hậu quả sau tai nạn, anh Đ bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, chị NLQ2 bị thương nhẹ.
Hiện trường xảy ra tai nạn là đường Phạm Văn Đồng, là đường thẳng, bề mặt trải nhựa bê tông phẳng, áp dụng lưu thông 02 chiều, đường xe chạy được phân chia bởi dải phân cách cứng ở giữa đường. Phần chiều đường xảy ra tai nạn được chia làm 03 làn xe (rộng 4,3m; 3,5m; 3,8m) bởi vạch sơn trắng không liên tục. Nơi xảy ra tai nạn thuộc làn thứ 3 (tính từ dải phân cách tim đường), tầm nhìn không bị che khuất, không có cọc tiêu, biển báo và đèn tín hiệu giao thông. (Bút lục 51-59)
Kết quả xác minh tại Trung tâm Quản lý hạ tầng giao thông đường bộ xác định: Tuyến Phạm Văn Đồng theo hướng từ Tô Ngọc Vân đến Đào Trinh Nhất hiện nay đang được tổ chức 06 làn xe lưu thông hai chiều, mỗi chiều 03 làn xe với bề rộng khoảng 10m, có vỉa hè, có dải phân cách tách 2 chiều lưu thông. Mỗi chiều được tổ chức giao thông như sau: Làn thứ 1 (làn sát dải phân cách tim đường) tổ chức cho tất cả các loại xe ô tô lưu thông; Làn thứ 2 (tính từ dải phân cách tim đường) tổ chức cho các loại xe ô tô khách, xe ô tô con, xe máy lưu thông; Làn thứ 3 (tính từ dải phân cách tim đường) tổ chức cho các loại xe máy, xe 2 và 3 bánh, xe đạp lưu thông. Hạn chế tốc độ tối đa với các phương tiện lưu thông trên đoạn tuyến này là 60 km/h. Cấm các loại xe cơ giới đỗ xe. Hệ thống biển báo, vạch sơn, đèn chiếu sáng công cộng có đầy đủ. (Bút lục 178)
Bản kết luận giám định số 2417/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận cơ chế hình thành dấu vết va chạm, và chiều hướng va chạm như sau: Dấu vết trượt xước, cong biến dạng các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 51D-456.12 (gồm: ốp cản trước, biển số trước, thanh kim loại phía dưới cản trước), có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết gãy vỡ, trượt xước các chi tiết phía sau xe mô tô biển số 59D3-223.38 (gồm: cung sau chắn bùn bánh sau, ốp đèn sau, đuôi ống xả, biển số), có chiều từ sau về trước. Khi va chạm, xe ô tô chuyển động trên làn bên phải đường Phạm Văn Đồng, theo hướng từ đường Tô Ngọc Vân đến đường Đào Trinh Nhất; xe mô tô chuyển động phía trước cùng chiều xe ô tô. Dấu vết va chạm trên xe ô tô và xe mô tô nêu trên là do hai xe này va chạm gây ra. Trước và sau giám định, xe mô tô biển số 59D3-223.38 có số khung, số máy không đổi, lần lượt là: RP8M25310GV112902, M253M-4012345. (Bút lục 76)
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 722/KLTTCT-TTPY.2023 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về thương tích của anh Võ Duy Đ như sau: (Bút lục 66-72)
1. Các kết quả chính:
- Chấn thương vùng bụng chậu gây xây xát, rách da, gãy mỏm ngang L5 trái, xương cùng 1, 2; xương cụt, gãy xương chậu trái vùng khớp cùng chậu, gãy trật xương mu phải, gãy ổ cối và chỏm xương đùi trái, trật khớp háng trái (ảnh 1 đến 5), dập đoạn đại tràng sigma, rách bàng quang đã được điều trị nắn trật khớp kèm kéo tạ gót, kết hợp xương ổ cối, mở bụng khâu bàng quang, mở hậu môn nhân tạo, sau đó phẫu thuật mô xơ sẹo đại tràng và đóng hậu môn nhân tạo.
- Chấn thương vai phải gây sưng bầm mô mềm, trật khớp cùng đòn (ảnh 15) đã được điều trị hiện không còn sưng bầm mô mềm, còn hình ảnh trật khớp kèm cốt hóa dây chằng cùng vai đòn trên phim MRI (ảnh 16), ổn định.
- Chấn thương gối trái gây rách da, gãy xương bánh chè đã được điều trị hiện còn một sẹo kích thước 10x(0,5-1,7)cm (ảnh 17) và hình ảnh gãy xương trên phim XQuang (ảnh 18).
- Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Duy Đ tại thời điểm giám định là: 90% (Chín mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Ngày 05/4/2024, Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 722-GT/KLTTCT-TTPY.23-24 về việc giải thích kết luận giám định của đương sự Võ Duy Đ, sinh năm 1995 như sau: (Bút lục 74)
- Chấn thương vùng bụng chậu:
+ Có tỷ lệ 87%, đã bao gồm tỷ lệ các sẹo mổ.
+ Các sẹo mổ là kết quả của quá trình điều trị chấn thương trên nên không tách tỷ lệ.
- Chấn thương vai phải: có tỷ lệ 11%
- Chấn thương gối trái: có tỷ lệ 05%
- Chấn thương vùng gò má trái: có tỷ lệ 1%
- Chấn thương vùng mặt sau ngoài cánh - cẳng tay phải: có tỷ lệ 01%
- Chấn thương vùng mặt sau cẳng tay trái: có tỷ lệ 1%
- Chấn thương vùng mu cổ bàn tay trái: có tỷ lệ 1%
- Chấn thương vùng cẳng chân trái: có tỷ lệ 1%
- Chấn thương vùng mu chân phải: có tỷ lệ 1%
Cộng các tỷ lệ trên theo Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ là 90%.
Chị NLQ2 bị xây xát nhẹ, nên từ chối giám định thương tích.
Khi xảy ra tai nạn, Nguyễn Bá T và anh Võ Duy Đ đều có giấy phép lái xe theo quy định và không có nồng độ cồn trong cơ thể. (Bút lục 86-87, 93)
Kết quả khám nghiệm phương tiện, thực nghiệm điều tra, dựng lại hiện trường phù hợp với kết quả giám định nêu trên. (Bút lục 157-177)
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Bá T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, và khai nhận khi điều khiển xe lưu thông đến đoạn đường trên thì buồn ngủ, sau đó gây ra vụ tai nạn giao thông như trên. (Bút lục 134-144)
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô biển số 59D3-223.38.
- 01 xe ô tô biển số 51D-456.12.
- 01 giấy phép lái xe số *** hạng B2 do Sở Giao thông vận tải cấp ngày 04/12/2019.
Trách nhiệm dân sự: Ngày 04/7/2025, Nguyễn Bá T và gia đình đã bồi thường cho bị hại số tiền 170.000.000 đồng, bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Bá T (Bút lục 60-62).
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSKV2 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và khung hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm đến 04 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số *** hạng B2 do Sở Giao thông vận tải cấp ngày 04/12/2019.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Bị hại là anh Võ Duy Đ trình bày: vụ tai nạn xảy ra để lại hậu quả là không thuộc mong muốn của các bên; sau khi xảy ra tai nạn thì bị cáo T đã tích cực cùng người dân xung quanh đã đưa bị hại đi cấp cứu, cứu chữa kịp thời; bị cáo và gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường các chi phí, thiệt hại và thường xuyên thăm hỏi sức khỏe của bị hại. Hiện nay bị hại đã hồi phục và đã lao động lại bình thường. Gia đình bị cáo T có cha mất sớm, mẹ đã lớn tuổi, T là trụ cột, nguồn thu nhập chính nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T để bị cáo có điều kiện chăm sóc mẹ già và gia đình.
Đại diện hợp pháp của Hợp tác xã Đ là anh Võ Xuân H trình bày: Hợp tác xã đã nhận lại chiếc xe ô tô biển số 51D-456.12 và không có yêu cầu gì khác.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, chỉ vì do buồn ngủ khi tham gia giao thông nên mới dẫn đến hành vi phạm tội, gây ra tai nạn ảnh hưởng đến sức khỏe của anh Đ, bị cáo có nhân thân tốt, luôn chấp hành theo quy định pháp luật của Nhà nước, rất mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án treo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát để có điều kiện làm công dân tốt cho xã hội, làm ăn chăm sóc cho mẹ già và các em.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh NLQ1 và chị NLQ2 vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của các đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
Về tội danh và định khung hình phạt: Xét trong quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám phương tiện, bản ảnh phương tiện,... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 12/02/2023, Nguyễn Bá T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 theo quy định, điều khiển xe ô tô tải biển số 51D-456.12 lưu thông trên đường Phạm Văn Đồng, theo hướng đường Tô Ngọc Vân về đường Đào Trinh Nhất. Khi đến trước nhà số 1350 Phạm Văn Đồng, phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Linh Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Bá T đã điều khiển xe không đúng làn đường, thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước, nên đã để phía trước đầu xe ô tô biển số 51D-456.12 đụng vào phía sau xe mô tô biển số 59D3-223.38 do anh Võ Duy Đ điểu khiển phía sau chở chị NLQ2, đang lưu thông phía trước cùng chiều, làm xe mô tô, anh Đ, chị NLQ2 ngã xuống đường, anh Đ bị cuốn vào gầm xe ô tô. Hậu quả sau tai nạn, anh Võ Duy Đ bị thương nặng với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 90%; chị NLQ2 bị xây xát nhẹ, từ chối giám định thương tích. Hành vi trên của Nguyễn Bá T đã vi phạm quy định tại Điều 12, Điều 13 Luật giao thông đường bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm an toàn giao thông công cộng, làm thiệt hại về sức khỏe của người khác, gây hoang mang cho người tham gia giao thông.
Cáo trạng của số 47/CT-VKSKV2 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Bá T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường dân sự cho bị hại; bị hại cũng đã có đơn bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà đáng ra bị cáo phải chịu.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra, đã nhận thức rõ sai trái của mình thiếu sự cẩn trọng trong hoạt động nghề nghiệp, lái xe tham gia giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn. Vụ việc tai nạn xảy ra cũng chưa để lại hậu quả nặng nề, không gây thiệt hại về tính mạng cho bị hại, bị hại sau khi được điều trị, xác định đã hồi phục một phần sức khỏe và nhận thức vụ tai nạn xảy ra ngoài ý muốn. Bị cáo cũng đã tích cực trong việc tác động gia đình khắc phục bồi thường thiệt hại cho người bị hại; bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt từ bị hại gửi Cơ quan cảnh sát điều tra và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ hoạt động nghề nghiệp mà thiếu sự cẩn trọng, không mong muốn hậu quả xảy ra; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, cho bị cáo T được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, hòa nhập với cộng đồng, tập trung làm ăn để chăm sóc mẹ già, xây dựng cuộc sống, làm công dân tốt cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không cố ý làm trái các quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông, hậu quả thiệt hại gây ra chưa quá mức nặng nề; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mất sớm, mẹ cao tuổi, lái xe là nghề nghiệp chính của bị cáo để kiếm thu nhập lo cho gia đình nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung “…cấm hành nghề…” theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển số 59D3-223.38, xe do Nguyễn Văn Hoài L (sinh năm 1996) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 29/12/2022, anh L đã ủy quyền cho anh NLQ1 (sinh năm 1993) toàn quyền quản lý, định đoạt đối với chiếc xe mô tô trên. Đến năm 2023, anh NLQ1 giao xe trên cho em ruột Võ Duy Đ sử dụng xe trên và xảy ra tai nạn. Ngày 14/6/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh Võ Duy Đ là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 xe ô tô biển số 51D-456.12, xe do Hợp tác xã Đ do anh Giang Minh T là đại diện theo pháp luật đứng tên chủ sở hữu, xe do anh Võ Xuân H thỏa thuận góp vốn vào Hợp tác xã và được Hợp tác xã bàn giao lại xe trên cho anh H sử dụng, anh H sau đó giao cho Nguyễn Bá T sử dụng để chở hàng. Ngày 14/6/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô trên kèm giấy tờ liên quan cho Hợp tác xã Đ là đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 giấy phép lái xe số *** hạng B2 do Sở Giao thông vận tải cấp ngày 04/12/2019 cho Nguyễn Bá T là tài sản, vật liên quan đến nhân thân của bị cáo nên giao trả lại cho bị cáo (đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Lâm Đồng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trả tự do cho bị cáo Trần Bá T ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
- Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số *** hạng B2 do Sở Giao thông vận tải cấp ngày 04/12/2019 mang tên Nguyễn Bá T.
(Trong hồ sơ vụ án)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Bá T nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Công an thành phố Hồ Chí Minh; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 2 – TP.HCM; - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. HCM; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Vương |