vanban.org

Bản án 492/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu ly hôn với anh Tăng Văn T.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tăng Gia D, sinh ngày 30/5/2008, cháu Tăng Mỹ A, sinh ngày 16/12/2012 cho anh Tăng Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Y không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở chị Y thực hiện quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Yến yêu cầu ly hôn với tăng văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu ly hôn với anh Tăng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 492/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16-12-2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Công Trọn

Ông Nguyễn Vũ Bằng

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 739/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/11/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 512/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, Sinh năm: 1989 (xin vắng mặt)

Cư trú: Khóm 3, thị trấn S, huyện T, tỉnh C.

2. Bị đơn: Anh Tăng Văn T, Sinh năm: 1988 (có mặt)

Cư trú: Khóm 3, thị trấn S, huyện T, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 23/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời ngày 12/11/2008. Vợ chồng có hai người con chung cháu Tăng Gia D, sinh ngày 30/5/2008, cháu Tăng Mỹ A, sinh ngày 16/12/2012.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị xét thấy không còn tình cảm với anh T, mối quan hệ hôn nhân không đạt được chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về con chung: Giải quyết theo nguyện vọng của hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Anh Tăng Văn T trình bày: Về hôn nhân và con như chị Y trình bày là đúng.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện tại anh và chị Y sống ly thân.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con chung, cấp dưỡng nuôi con: Anh yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chung cháu Tăng Gia Duy, sinh ngày 30/5/2008, cháu Tăng Mỹ Anh, sinh ngày 16/12/2012, anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Tăng Văn T, anh T có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự về việc “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vắng mặt đương sự: Chị Nguyễn Thị Y, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Y là đúng quy định.

Về nội dung:

Xét về yêu cầu ly hôn: Chị Y và anh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời ngày 12/11/2008, do đó hôn nhân của anh chị hợp pháp được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Y và anh T xác định trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị Y yêu cầu được ly hôn với anh T, anh T đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng phải yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng anh chị không làm được đều đó, cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị Y có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, như vậy cho thấy giữa anh chị không có thiện chí để hòa giải hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y ly hôn với anh T là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về con chung: Chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con theo nguyên vọng của các con. Anh T yêu cầu được nuôi hai con chung, anh xác định hiện tại có đủ điều kiện để nuôi hai con chung. Tại văn bản trình bày ý kiến của của cháu Tăng Gia D nguyên vọng của cháu là được sống với cha và ý kiến của cháu Tăng Mỹ A được sống với mẹ khi cha mẹ các cháu ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng ý kiến của cháu Tăng Mỹ A nguyện vọng của cháu được sống với mẹ, thấy rằng hiện tại cháu Tăng Mỹ A đang sống với anh T, anh T có nhà ở, công việc, thu nhập ổn định và hiện tại chỗ cháu đang ở có đầy đủ điều kiện về ăn học, y tế, vui chơi đảm bảo đủ điều kiện phát triển mọi mặt của cháu sau này. Đối với chị Y không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tăng Mỹ A. Để không làm sáo trộn cuộc sống của cháu Tăng Gia D, cháu Tăng Mỹ A. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Tăng Gia D, cháu Tăng Mỹ A cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Y không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở chị Y thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét về tài sản chung, nợ chung: Chị Y và anh T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét về án phí: Chị Y là người yêu cầu nên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận khởi kiện của chị Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu ly hôn với anh Tăng Văn T.

- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Tăng Gia D, sinh ngày 30/5/2008, cháu Tăng Mỹ A, sinh ngày 16/12/2012 cho anh Tăng Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Y không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở chị Y thực hiện quyền này.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị Y đã dự nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 300.000 đồng theo biên lai số 0005759 ngày 23/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ