vanban.org

Bản án 492/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 10/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1) Áp dụng khoản 1 Điều 193; Điều 35; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Đào Thị L 3.

2) Bị cáo Đào Thi ̣ L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thị L - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (điều 193 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? 1) Áp dụng khoản 1 Điều 193; Điều 35; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Đào Thị L 3.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––
Bản án số: 492/2019/HS-PT
Ngày: 10-7-2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.

Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và ông Nguyễn Văn Phổ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 349/2019/TLPT-HS ngày 22/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử số 360/2019/QĐXXPT-HS ngày 27/5/2019 đối với bị cáo Đào Thi ̣ L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân thi ̣ xa ̃ S, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: ĐÀO THỊ L, sinh năm 1961 tại Phú Thọ; ĐKNKTT và trú tại: Thôn GH, xã QH, huyện BH, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đào Văn Sáo và bà Nguyễn Thị Dậu; có chồng là Nguyễn Hữu Vỵ và 02 con; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2016 đến ngày 22/12/2016; hiện tại ngoại. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thế Kỷ và ông Trương Tiến Dũng - Luâ ̣t sư thuô ̣c Công ty Luật TNHH MTV Trương Tiến Dũng - Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Chị Nguyễn Hồng NH, sinh năm 1998; trú tại: Thôn GH, xã QH, huyện BH, thành phố Hà Nội. Có mặt.

1/7

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 18/12/2016 tại khu vực tổ 20 phường XK, thị xã S, Tổ công tác Đội Cảnh sát kinh tế - Công an thị xã S kiểm tra, phát hiện chị Nguyễn Hồng NH đang giao cho anh Vũ Thanh Xuân các loại hàng hóa trong đó có mì chính nhãn hiệu Ajinomoto và Miwon nghi là mỳ chính giả; đã tạm giữ 03 gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g; 20 gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 140g; 01 gói mì chính nhãn hiệu Miwon loại 100g; 01 tờ giấy ghi nội dung: “7 mì dài x 17 = 119; 3 mì ngắn x 17 = 51; 21 gói MC bé x 8 = 168; 3 gói MC to x 22 = 66; 2c chè x 13 = 260; 1c đỗ x 40 = 40; 704 - 500 còn 204”; 01 xe môtô nhãn hiệu Nouvo biển kiểm soát 30-N7-7103; 346.000 đồng.

Ngày 18/12/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S ra quyết định trưng cầu giám định mẫu mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g thu giữ ngày 18/12/2016. Tại Bản kết luận giám định số 5690/C54(P4) ngày 19/12/2016 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “03 gói mỳ chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g (Ký hiệu M1) gửi giám định đều là mỳ chính giả nhãn hiệu Ajinomoto loại 454g do Công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp là m mẫu so sá nh. Mì chính được niêm phong (Mẫu M1) gử i giá m đi ̣nh có thà nh phần chinh là

́ Mononatri Glutamat. Không tìm thấy các chất độc thường gặp trong các gói mỳ chính gửi đến giám định”.

Tiến hành k hám xét nơi ở của Đào Thị L tại thôn GH, xã QH, huyện BH, Cơ quan điều tra còn thu giữ 03 gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 01kg và 01 gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 140g.

Ngày 21/12/2016, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định Viện khoa học hình sự - Bộ Công an số mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 140g và 01 gói mi chính nhan hiê ̣̃

u Miwon loại 100g thu giữ ngày 18/12/2016 và số mì

̀ chính thu giữ khi khám xét khẩn cấp ngày 19/12/2016. Tại Bản kết luận giám định số 5784/C54(P4) ngày 22/12/2016 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “21 gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 140g (Ký hiệu M1 và M2) và 03 gói mì chính nhãn hiệu Ajinomoto loại 01kg (Ký hiệu M3) gửi giám định đều là m ì chính giả nhãn hiệu Ajinomoto loại 140g và 01 kg do Công ty Ajinomoto Việt Nam cung cấp là m mẫu so sá nh ; 01 gói mì chính nhãn hiệu Miwon loại 100g (Ký hiệu M4) gửi giám định là mi chính giả nhãn hiệu Miwon

̀

2/7

loại 100g do Công ty TNHH Miwon Việt Nam cung cấp là m mẫu so sá nh . Các mẫu mi chi nh gử i giá m đi ̣nh đều có thà nh phần chinh là Mononatri Glutamat .

̀

́

́ Không tìm thấy các chất độc thường gặp trong các gói mì chính gửi đến giám định”.

Quá trình điều đã làm rõ : Đào Thị L là người bán tạp hóa tại chợ M, xã QH, huyện BH, thành phố Hà Nội. Khoảng 10 giờ ngày 18/12/2016, một phụ nữ tên Hồng đến hỏi mua một số hàng khô là mì, chè khô, đỗ và mì chính. Lúc này, tại quầy hàng chi cỏ ̀n 03 gói mì chính Ajinomoto giả loại 454g, 02 gói mì chính Ajinomoto giả loại 140g. L nói giá bán mì chính Ajinomoto loại 454g là 22.000 đồng/01 gói, mì chính Ajinomoto loại 140g là 8.000 đồng/01 gói. Đồng thời L nói với chị Hồng: “Loại này đóng không đủ cân đâu, em về liệu mà bán”; ý L muốn nói với chị Hồng đây là mì chính giả. Chị Hồng chỉ vào gói mì chính Ajinomoto loại 140g hỏi: “Chị cò n loại mi chinh này không?”. L đáp: “Cò n, chị

̀

́

gửi ở đằng kia”. Sau đó , L sang quầy hàng của Nguyễn Thị T - Là người cùng buôn bán hàng khô tại chợ M hỏi mua la ̣i 18 gói mì chính Ajnomoto giả loại 140g và 01 gói mì chính Miwon giả loại 100g với giá 7.500 đồng/01 gói. L đem về quầy hàng bán lại cho chị Hồng số mì chính này với giá 8.000 đồng/01 gói. L ghi số lượng hàng đa bán cho chị Hồng vào một tờ giấy nhỏ và tính tổng số tiềñ hàng là 704.000 đồng. Chị Hồng nhờ L thuê người chở hàng về hô ̣. Cùng lúc này, chị Nguyễn Hồng NH là con dâu của L đến để mang thức ăn về nấu cơm, thấy chị Hồng muốn thuê người chở hàng nên chị NH đa nhận chở số hàng hóã trên đến khu vực Gốc Mít, xã TL, huyện BH với giá 100.000 đồng. Chị Hồng thanh toán trước cho L 500.000 đồng, khi nào chị NH giao hàng thì sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại là 204.000 đồng. Chị NH dùng xe môtô chở số hàng trên đi theo chị Hồng đến khu vực Gốc Mít thì chị Hồng bảo chị NH chở tiếp đến khu vực tổ 20 phường XK, thị xã S, sẽ trả thêm 30.000 đồng tiền công; chị NH đồng ý. Khi đi đến khu vực tổ 20 phường XK, thị xã S thì chị Hồng nói với chị NH là đứng chờ sẽ có người đến nhận hộ hàng, thanh toán tiền công và số tiền hàng còn lại. Cũng trong khoảng thời gian này, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18/12/2016, anh Vũ Thanh Xuân - Làm nghề xe ôm đang đứng chờ khách tại khu vực tổ 20, phường XK thì có một phụ nữ đến gặp, đưa cho anh 340.000 đồng và nói: “Anh đi ra ngoài đường lớn thấy có người phụ nữ đi xe môtô Nouvo màu đỏ chở theo bao tải hàng đứng chờ thì đến nói là lấy hàng hộ cô Hồng và trả cho họ 334.000 đồng, lát sau em đến lấy rồi trả tiền công”. Anh

3/7

Xuân đi đến khu vực ngã ba thuộc tổ 20 phường XK, thị xã S thì thấy chị NH đang đứng chờ. Anh Xuân đến nói với NH là nhận hàng hô ̣ cho chị Hồng nên chị NH giao hàng cho anh Xuân cùng tờ phiếu giao hàng. Anh Xuân đưa cho chị NH số tiền 340.000 đồng để thanh toán tiền hàng và tiền công vận chuyển. Khi chị NH đang trả lại cho anh Xuân 6.000 đồng tiền thừ a thì bị kiểm tra, thu giữ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân thị xã S đã áp dụng khoản 1 Điều 193; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Đào Thị L 24 tháng tù nhưng cho hưở ng án treo, thờ i gian thử thách 48 tháng về tội "Buôn bán hàng giả là thực phẩm ". Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 05/4/2019, bị cáo Đào Thi ̣ L có đơn kháng cáo đề nghị xem xét la ̣i bản án sơ thẩm, bị cáo không phạm tội “Buôn bá n hà ng giả là thực phẩm” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 333; 334; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức; và sau khi đánh giá tinh chất , mứ c đ ộ, hâ ̣u quả của hành vi ; các tình tiết tăng nặng ,

́ giảm nhẹ, nhân thân của bi ̣ cáo , Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nô ̣i cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm kết án bi ̣ cáo về tô ̣i

“Buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hình sự năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luâ ̣t ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h

, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 và 54 của Bộ luật Hình sự, chuyển sang hinh pha ̣t nhe ̣

̀ hơn, xử pha ̣t bi ̣ cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng là thỏa đáng.

Những ngườ i bào chữa cho bi ̣ cáo cho rằng : Quá trình khởi tố, truy tố , xét xử , các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã có một số vi phạm tố tụng về thẩm quyền điều tra , truy tố , xét xử; ngày giờ lập một số văn bản không thống nhất, có căn cứ khẳng định việc bắt, khám xét đối với bị cáo được thực hiện vào ngày 18/12/2016 nhưng các biên bản la ̣i thể hiê ̣n ngày 19/12/2016; vi pha ̣m trong viê ̣c thiết lâ ̣p các biên bản đóng , mở niêm phong ; nếu bi ̣ cáo L có tô ̣i thi

̀ viê ̣c tách hành vi của Nguyễn Thi ̣ T là chưa xác đáng

. Về nô ̣i dung , hành vi buôn bán mô ̣t số gói mi chinh - Là phụ gia thực phẩm được cho là giả nhan hiê ̣̃

u

̀

́ xảy ra vào thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t ; cấp

4/7

sơ thẩm xử pha ̣t bi ̣ cáo về tô ̣i “Buôn bá n hà ng giả là thực phẩm” theo Điều 193 của Bộ luật Hình sự năm 2017 là không chính xác, gây bất lợi cho bi ̣ cáo ; hành vi của bi ̣ cáo có dấu hiê ̣u cấu thành tô ̣i “Sản xuất, buôn bá n hà ng giả” theo Điều 156 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng do tri ̣ giá của số mi chinh này chi lả ̀

̀

́ 234.000 đồng nên chưa đủ y ếu tố định lượng của tội này ; đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm, tuyên bố bi ̣ cáo không pha ̣m tô ̣i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố , điều tra, xét xử vụ án , các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã có sai sót trong việc thiết lâ ̣p mô ̣t số văn bản tố tu ̣ng về ngày giờ , thành phần tham gia; đa lũ ́ng túng, vướ ng mắc trong viê ̣c xác đi ̣nh thẩm quyền theo lanh thỗ

̉ , đánh giá chứ ng cứ , xác định tội danh . Trong vu ̣ án này, hành vi khách quan đã rõ; bị cáo Đào Thi ̣ L và đối tượng Hồng đã thực hiện xong viê ̣c mua bán số mi chinh giả ta ̣i chợ M , xã QH, huyê ̣n BH; chị Nguyễn

̀

́ Hồng NH không biết và chi lả ̀ ngườ i chuyển hàng thuê đến đi ̣a bàn phườ ng XK , thị xã S; Cơ quan điều tra đa khỡ

̉ i tố vu ̣ án, khở i tố bi ̣ can về tô ̣i “Buôn bá n hà ng giả là thực phẩm” theo Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng. Căn cứ khoản 4 Điều 163, Điều 239 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì thẩm quyền điều tra , truy tố , xét xử vụ án này phải thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng của huyê ̣n BH mớ i chinh xác . Tuy nhiên, đánh giá , xem xét mô ̣t

́

cách tổng thể, toàn diện vụ án , Hô ̣i đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng những sai sót về tố tụng nêu trên là nghiêm trọng nhưng cũng đã được c ác cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trao đổi , khắc phu ̣c trong quá trinh giải quyết ; những

̀ sai sót đó không làm thay đổi bản chất của sự viê ̣c nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, tránh kéo dài không cần thiết viê ̣c giải quyết vu ̣ án . Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Đào Thi ̣ L có kháng cáo là hợp lệ , được chấp nhận.

Về nội dung: Biết rõ số mi chinh mua về để bán có bao bi (nhãn hiệu),

̀

́

̀ trọng lượng không đúng theo t iêu chuẩn của nhà sản xuất (xuất sứ hà ng hó a ), giá bán thì thấp hơn hàng chính hãng nhưng Đào Thi ̣ L vẫn mua để bán kiếm lời. Ngày 18/12/2016, Đào Thi ̣ L đa bã ́n 03 gói loại 454gam, 21 gói loại 140 gam đều giả nhãn hiệu mì chính Ajinomoto và 01 gói loại 100 gam giả nhan hiê ̣̃

u mi chinh

̀

́ Miwon cho đối tượng Hồng; khám xét nhà Lương còn thu giữ03 gói loại 01kg và

5/7

01 gói loại 140gam đều là mi chinh giả nhan hiê ̣̃

u Ajinomoto . Mì chính là chất

̀

́ điều vi ̣, là một loại phụ gia được phép sử dụng trong sản xuất , chế biến và kinh doanh thực phẩm; tại thời điểm phạm tội, hành vi trên của bị cáo phải bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Buôn bá n hàng giả là thực phẩm” theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều 193 của Bộ luật Hình sự năm 2017 quy đi ̣nh tô ̣i “Buôn bá n hà ng giả là lương thực , thực phẩm, phụ gia thực phẩm” nhưng không phải là tô ̣i mớ i hay hành vi mớ i mà điều luâ ̣ t chi mô tả

̉ cu ̣ thể hơn hành vi trướ c đây đa coi lã

̀ tô ̣i pha ̣m

. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2017 thì Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 193 của Bộ luật Hinh sự năm

̀ 2017 (Là tội nhẹ hơn) đối vớ i bị cáo là chinh xác, không oan.

́

Xét thấy: Bị cáo là người buôn bán những mặt hàng tạp hóa mang tính chất nhỏ lẻ ; số lượng mi chinh giả mua bán không nhiều ; theo kết luâ ̣n giám

̀

́ đi ̣nh thi số mi chinh giả này chi lả ̀ giả về nhan hiê ̣̃

u ; về chất lượng , thành phần

̀

̀

́ hóa học của những gói mì chính này không thay đổi so với nguyên mẫu của nhà sản xuất nên có thể coi bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại ; sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải; về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; nhất thời phạm tội lần đầu do hám lợi ; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm tro ̣ng ; có bố mẹ và chồng là người có công với cách mạng

. Vì vậy, ngoài các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét , Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; và căn cứ tính chất , mức độ của hành vi, nhân thân của bị cáo; xét thấy bi ̣ cáo có nhiều ti nh tiết giảm nhe ̣, không có tinh tiết tăng nă ̣ng nên Hội

̀

̀ đồng xét xử phúc thẩm chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ của Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa, áp dụng Điều 35 và khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2017 để chuyển sang hinh pha ̣t khác nhe ̣ hơn - Phạt bị cáo một

̀

khoản tiền là thỏa đáng.

Kiến nghi ̣: Trong vu ̣ án này còn có hành vi của đối tượng Nguyễn Thi ̣ T có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo Đào Thi ̣ L về tô ̣i “Buôn bá n hà ng giả là thực phẩm”; quá trình điều tra , Công an thi ̣ xa Sơn Tây đã

tã ́ch hành vi này để điều tra, xử lý sau. Hô ̣i đồng xét xử kiến nghi ̣ Cơ quan điều tra và Viê ̣n kiểm sát nhân dân cấp sơ thẩm cần tiếp tu ̣c xác minh , điều tra để làm rõ, nếu có căn cứ thi xử

̀ lý nghiêm minh, tránh bỏ lọt người và hành vi vi phạm pháp luật.

6/7

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

1.1) Áp dụng khoản 1 Điều 193; Điều 35; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2017, xử phạt Đào Thị L 3.000.000 đồng (Ba triê ̣u đồng ) về tội “Buôn bán hàng giả là thực phẩm”.

1.2) Bị cáo Đào Thi ̣ L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ