- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 491/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03/9/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Quang Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hiền.
2. Ông Hoàng Công Hợp.
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Quang Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 274/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 04 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 647/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Đào Thị H. Sinh năm 1980. Thường trú: XX, xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã Tân Long, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương).
2. Bị đơn: ông Vũ Hải L. Sinh năm 1982. Thường trú: XX, phường Tân Tạo (trước đây là phường Tân Tạo A, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn: theo bà Đào Thị H thì bà và ông Vũ Hải L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 6, do Ủy ban nhân dân xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã Tân Long, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương), cấp ngày 10 tháng 01 năm 2006.
Quá trình chung sống càng về sau càng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do có nhiều điểm bất đồng, từ đó gây ra nhiều mâu thuẫn. Hai bên đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Hiện tại, hai bên đã sống ly thân nhiều năm. Nay nhận thấy mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm đôi bên không còn nên bà Đào Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Hải L.
Về con chung: có 02 con chung tên Vũ Hải L1, sinh năm 2006, đã trưởng thành, và Vũ Khánh L2, sinh ngày 15/09/2009. Bà Đào Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con Vũ Khánh L2, không yêu cầu ông Vũ Hải L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
* Bị đơn: ông Vũ Hải L vắng mặt trong phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 13/8/2025 nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tòa án đã thu thập chứng cứ:
Theo văn bản tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân Tân Tạo (trước đây là phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh, thì Ủy ban nhân dân phường không có thông tin về quan hệ vợ chồng giữa bà Đào Thị H, ông Vũ Hải L.
Tại Bản tự khai của trẻ Vũ Khánh L2 ngày 11/6/2025, thì nguyện vọng của trẻ là muốn được ở với mẹ.
Tại phiên tòa: bà Đào Thị H có đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con, xin vắng mặt tại phiên tòa. Ngày 25/8/2025, ông Vũ Hải L nộp đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và cam kết chấp hành quyết định của Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Vụ án đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: xét đơn xin ly hôn của bà Đào Thị H cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn là Ông Vũ Hải L có nơi cư trú tại XX, phường Tân Tạo (trước đây là phường Tân Tạo A, quận Bình Tân), Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15.
Về thủ tục tố tụng: trước khi mở phiên tòa, bà Đào Thị H và ông Vũ Hải L đều có có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đào Thị H và ông Vũ Hải L.
Về nội dung: xét yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị H đối với ông Vũ Hải L, qua lời trình bày của bà Đào Thị H thì trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Ông Vũ Hải L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, không đưa ra được ý kiến của mình về việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Theo đơn ngày 25/8/2025 của ông Vũ Hải L thì ông chỉ cam kết chấp hành quyết định của Tòa án mà không đưa ra ý kiến gì về việc ly hôn, nuôi con, tài sản.
Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Đào Thị H và ông Vũ Hải L không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị H.
Về con chung: có 02 con chung tên Vũ Hải L1, sinh ngày 20/05/2006, đã trưởng thành, và Vũ Khánh L2, sinh ngày 15/09/2009. Bà Đào Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con Vũ Khánh L2, không yêu cầu ông Vũ Hải L cấp dưỡng nuôi con. Theo ý kiến của trẻ Vũ Khánh L2, sinh ngày 15/09/2009 (gần 16 tuổi), thì nguyện vọng của trẻ là muốn được ở với mẹ. Xét yêu cầu của bà Đào Thị H về nuôi con là có cơ sở, phù hợp với thực tế, nên chấp nhận yêu cầu của bà. Giao con Vũ Khánh L2 cho bà Đào Thị H nuôi dưỡng, ông Vũ Hải L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: hai bên không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: bà Đào Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật, nên thống nhất.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;
- Căn cứ các Điều 19, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014,
Tuyên xử:
I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Đào Thị H được ly hôn ông Vũ Hải L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 6, do Ủy ban nhân dân xã An Long, Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là xã Tân Long, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương), cấp ngày 10 tháng 01 năm 2006 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: giao con chung Vũ Khánh L2 cho bà Đào Thị H nuôi dưỡng, ông Vũ Hải L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: hai bên không có yêu cầu giải quyết, nên không xét.
4. Về án phí: bà Đào Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0076824 ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đào Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
II. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND KV9-TpHCM; - THADS TpHCM; - UBND xã An Long; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Phong |