- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 491/2020/HNGĐ-ST Ngày: 26- 8-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QẬN 7-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tố Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Ngô Hữu Quang
2/ Bà Lê Thị Kim Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị
Hồng Gấm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2020/TLST-HNGĐ, ngày
05/6/2020 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
103/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số:
63/2020/QĐST-DS, ngày 07/8/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy T, sinh năm 1992 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số A đường L, phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Minh P, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số A đường L, phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2020 của nguyên đơn, các bản tự khai, biên
bản hòa giải thì nội dung vụ án thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P tự nguyện tìm hiểu sống và đăng ký kết
hôn tại UBND phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng
nhận đăng ký kết hôn số 96, ngày 19/10/2018. Vợ chồng bà T sống hạnh phúc được
hơn 1 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã
được hai bên gia đình khuyên giải để hàn gắn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn
giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Lúc bà T sinh con (tháng 4/2019) về nhà mẹ
đẻ ở cử, ông P không qua thăm con, không gọi điện để hỏi thăm bà T và con nhỏ. Từ
đó đến nay, bà T không liên lạc được với ông P. Bà T gửi thư điện tử nói cho ông P
biết việc gửi đơn ly hôn và Tòa án thụ lý giải quyết vụ án. Bà T không gặp trực tiếp
ông P vì ông P không còn ở tại địa chỉ cũ, (số 02, đường số 2, tổ 15, khu phố 3,
phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà T đến nhà cha mẹ ông P (địa chỉ số 51/8 đường Lý Phục Man, khu phố 2, phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh) và gặp trực tiếp cha mẹ ông P nhưng họ nói không biết ông P ở đâu. Do đó bà T yêu cầu xin ly hôn với ông P.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/3/2019.
Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con cho đến khi trẻ thành niên, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có.
* Ông Lê Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không
có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ theo đúng quy của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
của nguyên đơn. Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thùy T yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh P là tranh chấp về
hôn nhân và gia đình. Bị đơn ông Lê Minh P cư ngụ tại Quận 7 nên căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét xử vắng mặt các đương sự:
Theo kết quả xác minh của Công an phường Bình Thuận, Quận 7 thì ông P hiện
nay có cư trú tại địa chỉ 51/8 đường Lý Phục Man, khu phố 2, phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã tống đạt và niêm yết cho ông Lê Minh P các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông P vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không tham gia phiên tòa, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Bà Nguyễn Thùy T có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào
khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 96 được Ủy ban
nhân dân phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/10/2018,
có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thùy T và ông Lê Minh P là
hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn gia đình: Bà T và ông P chung sống với nhau từ năm 2019.
Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên tranh cãi, không có tiếng nói
chung, ông P không quan đến bà T và con nhỏ. Hai bên gia đình nhiều lần khuyên nhủ
nhưng không có kết quả. Bà T và ông P ly thân từ khoảng 01 năm nay. Nên bà T yêu
cầu được ly hôn ông P.
Xét, quan hệ vợ chồng giữa bà T, ông P thường xuyên cãi vã, hiện nay mạnh ai
nấy sống, vợ chồng không còn quan tâm đến đời sống của nhau là mâu thuẫn đã đến
lúc trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được, nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông P là có cơ sở để chấp nhận.
Về phía ông P, mặt dù ông P biết bà T gửi đơn đến Tòa án để ly hôn với ông P,
nhưng ông P không có lời khai cũng như không đến Tòa án để tham gia tố tụng là ông
P để mặc cho sự việc diễn ra và không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này. Do đó
căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin
ly hôn của bà T.
Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh (bản sao y) số 141do Ủy ban nhân
dân phường Bình Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/2019 có cơ
sở để xác định bà T và ông P có 01 con chung tên Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày
31/3/2019. Trẻ Hưng từ lúc sinh ra cho đến nay sống chung với mẹ, hiện nay trẻ Hưng
chưa tròn 36 tháng tuổi nên bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con cho đến khi trẻ thành
niên là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, do đó
Hội đồng xét xử chấp nhận giao trẻ Lê Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/3/2019 cho bà T
trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ thành niên.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình khi
ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 các Điều 207, 266;
Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn
nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T.
[1.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thùy T được ly hôn với ông Lê Minh P.
[1.2] Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Phúc H, sinh ngày 31/3/2019 cho bà
Nguyễn Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ thành niên. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Ông Lê Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ
chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thùy T không yêu cầu ông Lê Minh P
cấp dưỡng nuôi con.
[1.3] Tài sản chung, nợ chung: Không có, không giải quyết.
[2] Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (ba trăm ngàn
đồng), nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T phải chịu. Bà Nguyễn Thùy T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0032570 ngày 05/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thùy T đã nộp đủ án phí.
[3] Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thùy T, ông Lê Minh P có quyền kháng cáo
bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q7, TP.HCM; - Chi cục THADS Q7, TP.HCM; - UBND p.Bình Thuận, Q7, TP.HCM; - Đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Tố Nhân |