vanban.org

Bản án 490/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 27/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Hữu P; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lâm Hữu P tử hình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Hữu P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Hữu P; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 490/2019/HS-PT
Ngày: 27 – 8 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Tuấn

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Ngọc Huynh

Ông Phan Đức Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Phong Lưu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 08 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 703/2018/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Lâm Hữu P; do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 383/2018/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Lâm Hữu P (tên gọi khác: không có); giới tính: nam; sinh ngày: 16/9/1987, tại tỉnh Bình Phước; thường trú: Tổ 10, ấp Đ, xã T, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; chỗ ở trước khi bị bắt: C18.3 Chung cư A, số 961 H, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Thế H, sinh năm 1953 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1956; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân: Tại bản án số 1461/HSST ngày 28/9/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, đến ngày 25/11/2007 chấp hành xong hình phạt tù; Tại bản án số 24/HSST ngày 02/8/2008, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 13/10/2011 chấp hành xong hình phạt tù; Tại bản án số 93/HSST ngày 19/9/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 15/01/2015 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 05/4/2018 (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Quang V – Công ty Luật TNHH Đ – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1988 (có mặt);

Trú tại: số 405/85 H, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ngân hàng Thương mại cổ phần T - Chi nhánh H (vắng mặt);

Địa chỉ: số 32A H, Phường 2, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ, ngày 05/4/2018, tại trước nhà số 51 P, Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 bắt quả tang Lâm Hữu P có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để bán. Thu giữ trong hộc để đồ gần hộp cần số xe ô tô biển số 59G-359.62 do P đang điều khiển có 01 giỏ xách da màu đen hiệu “Philipp Plein”, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 150,3846 gam, loại Methamphetamine.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của P tại căn hộ số C18.3 Chung cư A, 961 H, Phường 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan điều tra đã thu giữ như sau:

- Thu trong tủ quần áo phía trên có: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định nhanh là ma túy ở thể rắn có khối lượng 29,8529 gam, loại Methamphetamine.

- Thu trong ngăn phía dưới có:

+ 01 túi vải ghi chữ “DOVE” bên trong có 02 túi nylon ghi chữ “Cà phê A Taste of Qualiti”, bên trong tiếp tục chứa tổng cộng 02 gói chứa tinh thể không màu và 02 gói chứa tinh thẻ màu trắng ngà, qua giám định là ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 302,4249 gam, loại Ketamine kèm theo 01 gói chứa tinh thể màu trắng không tìm thấy các chất ma túy;

+ 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, qua giám định là ma túy thể rắn có khối lượng 0,8162 gam, loại Heroine;

+ 01 dĩa thủy tinh hình tròn đựng tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 197,9691 gam, loại Methamphetamine.

- Thu trong ngăn kéo tủ: 01 dĩa thủy tinh hình vuông đựng tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 714,14 gam, loại Methamphetamine.

- Thu trong ngăn kéo tủ thứ 2 từ trên xuống có: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 15,6342 gam, loại Methamphetamine.

Toàn bộ số ma túy thu giữ nêu trên có kết quả giám định thể hiện tại Kết luận giám định số 707/KLGĐ-H ngày 13/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Lâm Hữu P bắt đầu sử dụng ma túy từ đầu năm 2018. Vào khoảng đầu tháng 01/2018, thông qua bạn bè ngoài xã hội thì P có quen biết với một người tên Bi (không rõ lai lịch) chuyên bán ma túy đá và Ketamine. Từ đó, P bắt đầu liên lạc với Bi để mua ma túy đá và Ketamine về đem đi bán cho nhiều người nghiện (chưa rõ lai lịch) tại khu vực Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An để thu lợi bất chính. Cụ thể:

Lần thứ nhất vào khoảng tháng 02/2018, P điện thoại cho Bi đặt mua 70 gam ma túy đá với giá 27.300.000 đồng và 30 gam Ketamine với giá 14.400.000 đồng, giao dịch tại đường Nguyễn Văn Linh, Quận 7, tuy nhiên lần này chưa bán được.

Lần thứ hai vào ngày 01/4/2018, P tiếp tục điện thoại cho Bi đặt mua 300 gam ma túy đá với giá 117.000.000 đồng; 40 gam Ketamine với giá 9.600.000 đồng, giao dịch tại đường Nguyễn Văn Linh, Quận 7. Sau đó, P đến cầu chữ U, Quận 8 mua thêm 1.000.000 đồng Heroine của một người thanh niên (không rõ lai lịch) đem về chỗ ở cất giấu. Ngày 05/4/2018, có một đối tượng tên Thắng (không rõ lai lịch) điện thoại cho P đặt mua 150 gam ma túy với giá 43.000.000 đồng, hẹn giao dịch ở khu vực cầu Chánh Hưng, Quận 8. P đang trên đường đi bán ma túy cho T thì bị bắt quả tang thu giữ ma túy trên xe ô tô và sau đó tiếp tục khám xét nơi ở của P thu giữ số ma túy đã nêu trên.

Quá trình điều tra, tuy P khai có mua thêm “đá 30” ở chợ Kim Biên và thuốc Panadol ở tiệm thuốc tây đem về trộn với số ma túy đã mua nhằm tăng khối lượng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cho thấy qua thu giữ quả tang và khám xét nơi ở của P không thu giữ được thuốc Panadol cũng như các vật dụng dùng để pha trộn ma túy. Do đó, lời khai của P chỉ nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” mà P phải chịu.

Về các đối tượng tên Bi và Thắng, do P khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 04 (bốn) gói niêm phong, bên ngoài ghi số 707/18 (gói 1)/PC47, 707/18 (gói 2)/PC47, 707/18 (gói 3)/Q8 và 707/18 (gói 4)/Q8 có chữ ký niêm phong của Giám định viên Trần Đình H và Cán bộ điều tra Trần Xuân T, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone;

- 01 (một) giỏ xách da màu đen hiệu PHILIPP PLEIN;

- 01 (một) cân điện tử hiệu MARLLONO;

- 01 (một) ống nhựa vạt nhọn một đầu và 20 (hai mươi) gói nylon rỗng;

- 01 (một) máy ép túi nylon hiệu IMPULSE SEALER;

- 01 (một) xe ô tô hiệu Honda Civic biển số 51G-359.62, số khung: MRHFC1670HT030067, số máy: L15B72450222. Kết quả xác minh do bà Nguyễn Thị Kim L là bạn gái của Lâm Hữu P đứng tên chủ sở hữu. Ngày 28/4/2017, bà L đến Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong làm thủ tục vay số tiền 650.000.000 đồng để mua xe ô tô nêu trên dùng làm phương tiện đi lại. Bà L khai vào đầu tháng 4/2018, L về quê làm việc gia đình và để xe ô tô lại cho P sử dụng, ngày 05/4/2018 P sử dụng xe ô tô của bà L để đi bán ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang. Kết quả điều tra đến nay chưa có căn cứ xác định bà L có liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với P và bà L cũng có đơn xin nhận lại xe. Ngày 05/7/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tạm giao chiếc xe ô tô trên cho bà L quản lý và sử dụng có sự bảo lãnh của Ngân hàng Tiên Phong.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 383/2018/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Bị cáo Lâm Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lâm Hữu P tù Chung thân, thời hạn thi hành án phạt được tính kể từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 05/4/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 25/10/2018, bị cáo Lâm Hữu P làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 07/11/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị phúc thẩm, đề nghị xét xử theo hướng tăng nặng mức hình phạt từ tù Chung thân lên tử hình đối với bị cáo Lâm Hữu P.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Hữu P thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Tuy nhiên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo đã thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn. Vì vậy bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Sau khi phân tích tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát cho rằng: Bị cáo Lâm Hữu P đã có hành vi mua bán với tổng ma túy là 1.410,4057 gam, loại Methamphetamine, Ketamine và 0,8162 gam, loại heroine. Bị cáo có nhân thân xấu. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tù chung thân là chưa tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; sửa bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lâm Hữu P tử hình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết. Luật sư chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét bị cáo thành khẩn khai báo chỗ cất dấu ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết tự thú là thiếu sót. Gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, về số lượng ma túy bị cáo chỉ mua 370 gam ma túy đá, cùng 70 gam Ketamine và mua 1.000.000 đồng Heroine, rồi bị cáo có mua thêm khoảng 770 gam “đá 30” ở chợ Kim Biên và thuốc Panadol ở tiệm thuốc tây đem về trộn với số ma túy đã mua nhằm tăng khối lượng như đã bị bắt quả tang là 1.107,9808 gam loại MA, 302,4249 gam loại Ketamine và 0,8162 gam, loại Heroine. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lâm Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản phạm tội quả tang, biên bản khám xét, tang vật vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở để kết luận:

Vì mục đích vụ lợi và để có ma túy sử dụng, vào khoảng đầu tháng 01/2018, Lâm Hữu P thông qua bạn bè ngoài xã hội có quen biết với một người tên Bi (không rõ lai lịch) chuyên bán ma túy đá và Ketamine. P bắt đầu liên lạc với Bi để mua ma túy đá và Ketamine 02 lần và mua của một thanh niên không rõ lai lịch 01 lần đem về nhằm mục đích bán cho nhiều người nghiện (chưa rõ lai lịch) tại khu vực Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An để thu lợi bất chính.

Ngày 05/4/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 bắt quả tang Lâm Hữu P có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để bán tại trước nhà số 51 Phạm Hùng, Phường 10, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Thu giữ trong hộc để đồ gần hộp cần số xe ô tô biển số 59G-359.62 do P đang điều khiển có 01 giỏ xách da màu đen hiệu “Philipp Plein”, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 150,3846 gam, loại Methamphetamine; khám xét tại nơi ở của P đã thu giữ 957,5962 gam, loại Methamphetamine, 302,4249 gam Ketamine và 0,8162 gam, loại Heroine (theo Kết luận giám định số 707/KLGĐ-H ngày 13/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Lâm Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo xin giảm án của bị cáo Lâm Hữu P. Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm khác nhưng do lười lao động, đồng thời để có tiền nhằm thoả mãn tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã cố tình phạm tội, thể hiện sự coi thường và bất chấp pháp luật. Trong tình hình hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng, để răng đe và phòng ngừa chung cho xã hội cần phải xử phạt thật nghiêm.

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và đã tỏ ra ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lâm Hữu P tù Chung thân là chưa tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Bởi lẽ: Về nhân thân bị cáo đã bị các cấp Tòa án xét xử 03 lần với các tội danh khác nhau, tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn cố tình không cải sửa, tu dưỡng, nay bị cáo lại cố tình phạm tội mới đặc biệt nghiêm trọng với khối lượng ma túy là rất lớn. Tổng cộng 1.411,2219 gam (gồm: 1.107,9808 gam, loại Methamphetamine; 302,4249 gam, loại Ketamine và 0,8162 gam, loại Heroine).

Do bị cáo không còn khả năng cải tạo được nữa, nên cần loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội như kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân Thành phố Hồ Chí Minh để răng đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về ý kiến trình bày của luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú là thiếu sót. Ý kiến này của luật sư là không đúng bởi lẽ: bị cáo bị bắt quả tang. Luật sư còn cho rằng bị cáo có mua thêm “đá 30” ở chợ Kim Biên và thuốc Panadol ở tiệm thuốc tây đem về trộn với số ma túy nhằm tăng khối lượng, tuy nhiên quá trình điều tra cho thấy việc bắt quả tang và khám xét nơi ở của P không thu giữ được thuốc Panadol cũng như các vật dụng dùng để pha trộn ma túy. Mặt khác, theo Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thì số ma túy của bị cáo P không thuộc trường hợp phải giám định về hàm lượng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của luật sư.

Từ những nhận định trên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm án của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Lâm Hữu P từ Chung thân lên Tử hình như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lâm Hữu P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Hữu P; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Lâm Hữu P.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hữu P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Hữu P tử hình.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lâm Hữu P theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo việc thi hành án.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Lâm Hữu P được quyền gửi đơn xin ân giảm hình phạt tử hình lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lâm Hữu P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ