- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 89, 101, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016 về Án phí, Lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2019 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Tương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Phạm Hồng Thiêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên toà: Không
Ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205A/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 về Tranh chấp về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Số nhà X, khu Y, thị trấn D, Thái Thụy, Thái Bình.
Bị đơn: Bà Khúc Thị Hương, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Thôn H 4, xã L, huyê ên Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Trọng Đăng K, sinh ngày 20/7/2003;
Địa chỉ: Thôn H 4, xã L,huyê ên Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Người đại diê ên hợp pháp của anh Khoa: Bà Khúc Thị H – mẹ đẻ anh K.
(Có mă êt ông Tiê ên, bà Hương, anh Khoa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – ông Nguyễn Văn T trình bày:
Năm 2002, ông có quen và có quan hê ê tình cảm với bà Khúc Thị H. Lúc này, bà Hương đang có quan hê ê vợ chồng với ông Đào Trọng M, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn H 4, xã L,, huyê ên Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (Đã chết năm 2008). Đến ngày 20/7/2003, bà H có sinh cháu Đào Trọng Đăng K, ông biết viê êc bà H sinh con nhưng không biết đây là con của ông và bà H. Sau khi ông M chết mô êt thời gian, đến năm 2019 ông nhâ ên thấy ông và cháu K có nhiều điểm giống nhau nên ông có đề nghị bà H cho ông được xét nghiê êm ADN với cháu K. Ông và cháu K đã làm xét nghiê êm ADN tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền và kết quả xét nghiê êm xác định ông và cháu K có quan hê ê huyết thống cha – con, tuy nhiên bà H không chấp nhâ ên kết quả này và không công nhâ ên ông là cha đẻ của cháu K. Nay, ông yêu cầu Tòa án xác định ông là cha đẻ của cháu Đào Trọng Đăng K.
Tại bản tự khai bị đơn – bà Khúc Thị H trình bày:
Bà và ông Đào Trọng M, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn H 4, xã L, huyê ên Thái Thụy, tỉnh Thái Bình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1986, sau đó bà và ông M có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Năm 2002, bà có quen và có quan hê ê tình cảm với ông Nguyễn Văn T, đến ngày 20/7/2003 bà sinh cháu Đào Trọng Đăng K. Năm 2008, ông M chết. Khoảng đầu năm 2019, ông T có nói với bà muốn xét nghiê êm ADN với cháu K, sau đó ông T và cháu K đi xét nghiê êm và thông báo kết quả với bà viê êc ông T và cháu K đã làm xét nghiê êm ADN tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền và kết quả xét nghiê êm xác định ông T và cháu K có quan hê ê huyết thống cha – con. Tuy nhiên, bà không chấp nhâ ên kết quả này, ông M đã nuôi dưỡng cháu K mô êt thời gian nên cháu K rất có tình cảm với ông M, bà không muốn ảnh hưởng đến tâm lý của cháu K nên bà vẫn xác định cháu K là con của ông Đào Trọng M, đề nghị Tòa án không chấp nhâ ên yêu cầu khởi kiê ên của ông T.
Tại bản tự khai anh Đào Trọng Đăng K trình bày:
Anh không biết quan hê ê giữa mẹ anh và ông Nguyễn Văn T như thế nào. Thời gian gần đây, ông T có tìm đến và đề nghị được xét nghiê êm ADN với anh. Anh và ông T đã làm xét nghiê êm ADN tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền và kết quả xét nghiê êm xác định anh và ông T có quan hê ê huyết thống cha – con. Nay, ông T có yêu cầu xác định ông T là cha đẻ của anh nhưng mẹ anh không chấp nhâ ên yêu cầu của ông T, anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luâ êt.
Trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều thống nhất:
1. Ông Nguyễn Văn T, bà Khúc Thị H và anh Đào Trọng Đăng K đều tự nguyê ên công nhâ ên kết quả xét nghiê êm ADN theo Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ 1902559 ngày 29/6/2019, cụ thể: Căn cứ vào kết quả phân tích AND, Hô êi đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis kết luâ ên: Hai người trên (Gồm ông Nguyễn Văn T là người có mẫu ADN kí hiê êu 16095B và anh Đào Trọng Đăng K là người có mẫu ADN kí hiê êu 16095C) có quan hê ê huyết thống cha – con. Ông T, bà H và anh K đều không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định lại.
2. Ông Nguyễn Văn T, bà Khúc Thị H và anh Đào Trọng Đăng K tự nguyê ên thống nhất xác định ông Nguyễn Văn Tiê ên, sinh năm 1969 là cha đẻ của anh Đào Trọng Đăng Khoa, sinh ngày 20/7/2003.
3. Bà Khúc Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con Đào Trọng Đăng K, bà H không yêu cầu ông Tiê ên cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Đối với yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn T là cha đẻ của cháu Đào Trọng Đăng K: Cả ông T và bà H đều thừa nhâ ên ông bà có quan hê ê nam nữ từ năm 2002, khi đó bà H đang có quan hê ê vợ chồng với ông Đào Trọng M. Trên cơ sở kết luâ ên giám định ADN theo Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ 1902559 ngày 29/6/2019, cụ thể: Căn cứ vào kết quả phân tích ADN, Hô êi dồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis kết luâ ên: Hai người trên (Gồm ông Nguyễn Văn T là người có mẫu ADN kí hiê êu 16095B và anh Đào Trọng Đăng K là người có mẫu ADN kí hiê êu 16095C) có quan hê ê huyết thống cha – con. Đồng thời tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đều thống nhất công nhâ ên kết quả giám định này, không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định lại nên có căn cứ khẳng định ông Nguyễn Văn T là cha đẻ của anh Đào Trọng Đăng K.
. Về nghĩa vụ nuôi con: Bà Khúc Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con Đào Trọng Đăng K, bà H không yêu cầu ông Tiê ên cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Đây là sự tự nguyê ên của các đương sự, đảm bảo quyền lợi của con chung nên cần chấp nhâ ên.
. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T được miễn nô êp tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 89, 101, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016 về Án phí, Lệ phí Toà án.
Chấp nhâ ên yêu cầu khởi kiê ên của ông Nguyễn Văn T về viê êc: Xác định ông Nguyễn Văn T là cha đẻ của anh Đào Trọng Đăng K.
Giao con chung Đào Trọng Đăng K, sinh ngày 20/7/2003 cho bà Khúc Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhâ ên sự tự nguyê ên của bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền đi lại, thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Viê êc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đă êt ra khi có yêu cầu.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn T được miễn án phí. Trả lại ông T số tiền 300.000 đồng đã nô êp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001913 ngày 09/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyê ên Thái Thụy.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mă êt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
N ơ i nhận:
| - VKSND huyện Thái Thụy; - Chi cục THADS huyện Thái Thụy; - TAND tỉnh Thái Bình; - Các đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Thế Tương |