- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "BA Hạnh - Nam"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự nă
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/DS-PT Ngày: 19/4/2019 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Ông Huỳnh Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Liên – Thư T a án nhân dân t nh Lâ
ồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà ỗ Thị Thúy - Kiể sát viên
Ngày 19 tháng 4 nă 2019, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Lâ ồng xét xử phúc thẩ công hai vụ án thụ l số 138/2018/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 nă 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩ số 33/2018/DS-ST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số 100/2019/Q -PT ngày 08/4/2019 của T a án nhân dân t nh Lâ ồng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà ỗ Thị Ki H, sinh nă :1964;
ịa ch : Tổ Dân phố TL 2, thị trấn NB, huyện LH, t nh Lâ ồng
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hải N, sinh nă : 1975;
Bà Trần Thị Thúy Ng, sinh nă : 1978;
ịa ch : Tổ Dân phố B , thị trấn NB, huyện LH, t nh Lâ ồng
Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn: Bà Phạ Thị D, sinh nă : 1963;
ịa ch : Số 789 HV, thị trấn V, huyện LH, t nh Lâ ồng (Văn bản ủy quyền
lập ngày 30/01/2018).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Minh Th, sinh nă : 1984;
ịa ch : Số 49/5/17 B , Phường x, Quận y, Thành phố HCM.
2. Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q ;
ịa ch trụ sở: Số 65 LHP, phường B , thành phố TH, t nh TH.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang , sinh nă : 1978;
Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Do có háng cáo của bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng; người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh Th; Công ty cổ phần vận tải du lịch
thương ại Q .
(Bà H, anh Th, ông có ặt; bà D có đơn xin vắng ặt; các đương sự hác đều vắng ặt tại phiên t a).
NỘI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/01/2018 và lời trình bày của nguyên đơn Bà Đỗ Thị Kim H thì:
Vợ chồng ông N, bà Ng có vay tiền của bà để cho vay đáo hạn Ngân hàng Bà Ng có trao đổi với bà về tiền lãi suất tính 3 000 đồng/1 000 000đồng/01 ngày thì sẽ trích cho Ngân hàng ột phần và phần c n lại hai bên sẽ chia nhau lãi suất chênh lệch Bà đồng nên đầu tháng 12/2017 bà đã ở tài hoản tại Ngân hàng ầu tư và Phát triển Việt Na Trong thời gian cuối nă 2017 bà đã cho vợ chồng ông N, bà Ng vay nhiều lần, cụ thể:
Ngày 06/12/2017, ông N, bà Ng nhờ bà chuyển vào tài hoản số 64610000209114 tại BIDV ang tên Lê Thị Như H để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 850 000 000 đồng và số tài hoản 5404205093550 tại Agriban ang tên Nguyễn Thị H số tiền 700 000 000 đồng;
Ngày 14/12/2017, ông N, bà Ng nhờ bà chuyển vào tài hoản số 64610000155916 tại BIDV ang tên Phạ Kiên C để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 1 100 000 000 đồng;
Ngày 15/12/2017, ông N, bà Ng nhờ bà chuyển vào tài hoản số 64310000102923 tại BIDV ang tên inh Thị T để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 250 000 000 đồng đồng và chuyển vào tài hoản số 5404205032900 tại Agriban mang tên Trần Thị H để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 500 000 000 đồng Sau đó, bà có giao tiền ặt cho ông N nhận số tiền là 350 000 000 đồng
Do hi thỏa thuận là vay nóng rồi trả lại nhưng sau hi chuyển tiền cho vợ chồng ông N, bà Ng vay, bà có hỏi để đ i lại nhưng ông N, bà Ng tránh ặt, hông nghe điện thoại Bà tì hiểu thì được biết vợ chồng ông N, bà Ng bị thua lỗ, bễ nợ Sau đó, bà có gặp ông N, bà Ng chốt số nợ ông N, bà Ng c n nợ bà là gần 4 000 000 000 đồng, nên bà trao đổi thì ông N, bà Ng đồng sang nhượng cho bà D tích đất tại thị trấn NB Lúc này thì đất đang thế chấp vay vốn Ngân hàng 1 500 000 000 đồng Ông N, bà Ng thỏa thuận chuyển nhượng đất cho bà với giá trị là 2 800 000 000 đồng, trong đó bà giao tiền ặt cho ông N, bà Ng số tiền là 300 000 000 đồng; bà giao tiền cho ông N, bà Ng trả nợ Ngân hàng số tiền 1 500 000 000 đồng để lấy sổ đỏ ra là thủ tục chuyển nhượng (Ngày 22/12/2017, bà chuyển vào tài hoản số 64310000045247 tại BIDV ang tên Trần Thị Thúy Ng số tiền là 1 500 000 000 đồng đồng); c n 1 000 000 000 thì ông N, bà Ng cấn trừ trả bớt nợ cho bà
Ngày 22/12/2017, bà với vợ chồng ông N, bà Ng chốt lại nợ và là hợp đồng vay với số tiền là 2 750 000 000 đồng Ông N, bà Ng hẹn đến ngày 02/01/2018 sẽ trả hết nợ cho bà Do quá hạn ông N, bà Ng hông trả nợ à cố tình tránh ặt, hông gặp bà để thỏa thuận giải quyết việc trả nợ
Do vậy, bà là đơn hởi iện ông N, bà Ng tại T a án Lúc này thì ông N, bà Ng đang có định giao xe ô tô hiệu THACO, biển iể soát 49B-006 72 đứng tên chủ sỡ hữu là ông N cho người hác để trừ nợ nhưng bà hông đồng , và chiếc xe đang tranh chấp và đang tạ giữ tại UBND thị trấn NB. Khi anh Th vào đưa xe đi, bà có giao cho anh Th văn bản phong tỏa chiếc xe của Công an t nh Lâ ồng nhưng anh Th có văn bản ủy quyền của ông N, bà Ng nên đã đưa xe đi Bà đã yêu cầu T a án áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với chiếc xe trên
Nay, Bà H hởi iện yêu cầu T a án giải quyết buộc ông N, bà Ng phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 2 750 000 000 đồng, c n tiền lãi do chỗ là ăn với nhau à hiện nay ông N, bà Ng đang hó hăn nên bà hông yêu cầu ông N, bà Ng trả lãi ồng thời, bà yêu cầu T a án tiếp tục duy trì biện pháp phong tỏa đối với xe ô tô biển iể soát 49B-006 72 tại Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH để đả bảo nghĩa vụ thi hành án của ông N, bà Ng với bà hi bản án của T a án có hiệu lực
Đại diện bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng là Bà Phạm Thị D trình bày:
Theo bà Nga, ông N thì từ nă 2015, bà Ng thường xuyên vay tiền của Bà H để là ăn, lãi suất vay là 9 000đồng/01 triệu đồng/01 ngày Lúc đầu thì ông N, bà Ng ch vay số tiền dao động từ 80 000 000 đồng đến 100 000 000 đồng
ến nă 2017, bà Ng có vay của Bà H số tiền lớn hơn là từ 700 000 000 đồng đến 800 000 000 đồng, lãi suất bà Ng vẫn trả cho Bà H đầy đủ Số lần ông N, bà Ng vay tiền và Bà H đã chuyển tiền cho ông N, bà Ng theo các số tài hoản ông N, bà Ng nhờ chuyển như Bà H trình bày trên là đúng
ến tháng 12/2017, hai bên chốt nợ thì số tiền bà Ng c n nợ Bà H hoảng hơn 3.000.000.000 đồng Ngày 22/12/2017, Bà H lập hợp đồng vay tiền rồi yêu cầu bà Ng và ông N vào Thực chất ọi giao dịch vay tiền đều do bà Ng và Bà H thực hiện với nhau, ông N hông biết; giai đoạn sau này hi chốt nợ thì ông N đã xác nhận và cùng hợp đồng vay tiền của Bà H.
Nay, Bà H yêu cầu bà Ng và ông N trả số tiền 2 750 000 000 đồng thì ông N, bà Ng xác định số tiền ông N, bà Ng nợ Bà H 2 750 000 000 đồng là đúng nhưng do điều iện đang hó hăn nên ông N, bà Ng xin Bà H giả bớt xuống c n 2 500 000 000 đồng vì tiền lãi ông N, bà Ng cũng trả cho Bà H nhiều
ối với chiếc xe ô tô hách giường nằ nhãn hiệu THACO, biển số 49B-006 72 do vợ chồng bà Ng ua trả góp và thế chấp vay vốn tại Ngân hàng ầu tư và Phát triển Việt Na – Chi nhánh Lâ ồng – Ph ng giao dịch T. Do đến hạn trả góp, ông N, bà Ng hông trả được nợ nên ngày 15/01/2017 ông N, bà Ng cùng với Anh Nguyễn Minh Th đến Ngân hàng để thỏa thuận cho vợ chồng ông N, bà Ng chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe ô tô cho anh Th để anh Th thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Ngân hàng đồng và hướng dẫn ông N, bà Ng và anh Th là thủ tục chuyển giao bằng hợp đồng ủy quyền Ông N, bà Ng cùng anh Th đã đến văn ph ng công chứng Nguyễn ức T lập hợp đồng ủy quyền Qua ngày 16/01/2017, anh Th đã nộp vào Ngân hàng tiền gốc, lãi và tiền phạt chậ trả tổng cộng là 36 436 389 đồng
Ngày 17/12/2017, theo yêu cầu của Ngân hàng thì anh Th đã nộp luôn số tiền c n lại là 750 239 583 đồng và Ngân hàng đã giao giấy tờ xe cho ông Thanh Sau hi nhận giấy tờ xe về thì anh Th đã sang nhượng lại cho người hác Việc ông N, bà Ng chuyển quyền sở hữu chiếc xe trên cho anh Th là để anh Th thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, không phải là tẩu tán tài sản
T a án ra quyết định phong tỏa tài sản này là hông đúng pháp luật, vì vậy ông N, bà Ng đề nghị T a án hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH để bảo vệ quyền lợi cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Minh Th trình bày:
Anh và ông N, bà Ng hông có quen biết nhau từ trước Qua giới thiệu và do nhu cầu cần nhận chuyển nhượng xe ô tô nên anh thỏa thuận với Ông Nguyễn Hải N và Bà Trần Thị Thúy Ng để chuyển nhượng xe ô tô hách giường nằ nhãn hiệu THACO, biển iể soát 49B-006.72 do ông N đứng tên sở hữu, nhưng do xe ua trả góp và thế chấp tại chi nhánh Ngân hàng ầu tư và Phát triển Lâ ồng – Phòng giao dịch T.
ến hạn trả góp, ông N, bà Ng hông trả được nên vào ngày 15/01/2018 ông N, bà Ng cùng với anh đến chi nhánh Ngân hàng ầu tư và Phát triển Lâ ồng – Ph ng giao dịch T để thỏa thuận cho vợ chồng ông N, bà Ng chuyển giao quyền sở hữu chiếc xe ô tô nói trên cho anh để anh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ược Ngân hàng đồng và hướng dẫn cho ông N, bà Ng và anh là thủ tục chuyển giao bằng hợp đồng ủy quyền Cũng trong ngày 15/01/2018 vợ chồng ông N, bà Ng và anh đến Văn Ph ng công chứng Nguyễn ức T lập hợp đồng ủy quyền, nội dung ủy quyền cho anh được toàn quyền định đoạt (bán, tặng, cho) chiếc xe ô tô nói trên
Ngày 16/01/2018, ông N, bà Ng lập văn bản ca ết bán xe ô tô nói trên cho anh với giá là 1 140 000 000 đồng Trong số tiền thỏa thuận ua bán nói trên thì anh đã nộp vào Ngân hàng số tiền gốc, lãi và lãi chậ trả tổng cộng là 36 436 389 đồng Theo yêu cầu của Ngân hàng, ngày 17/01/2018 anh đã nộp đủ số tiền nợ của ông N, bà Ng c n lại là 750 239 583 đồng và Ngân hàng đã lập các thủ tục xóa thế chấp, giao giấy tờ xe cho anh Sau hi nhận giấy tờ xe và xe về thì đến ngày 19/01/2018 anh hợp đồng chuyển nhượng chiếc xe trên cho Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q Hợp đồng ua bán được công chứng tại Văn ph ng công chứng VA, thành phố HCM.
Sau hi anh đã hoàn tất hợp đồng ua bán chếc xe nêu trên, thì vào ngày 20/01/2018, anh có nhận được quyết định phong tỏa đối với xe ô tô biển iể soát 49B-006 72 của T a án Anh xác định, việc anh ua xe của ông N, bà Ng là để anh thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng – hông phải là tẩu tán tài sản Do vậy, anh yêu cầu T a án hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 để đả bảo quyền lợi chính đáng cho anh.
ối với yêu cầu của Bà H về việc yêu cầu ông N, bà Ng phải trả số tiền vay 2 750 000 000 đồng thì anh xác định hông có liên quan, anh đề nghị T a án giải quyết tranh chấp giữa Bà H với ông N, bà Ng theo quy định của pháp luật
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương mại QĐ (Công ty QĐ), do Ông Ngô Quang Đ đại diện theo pháp luật trình bày:
Ngày 19/01/2018, Công ty Q ua chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 đứng tên giấy chứng nhận đăng xe là Nguyễn Hải N và anh Th có văn bản ủy quyền của ông N, bà Ng cho anh Th được toàn quyền ua, bán nên ông đại diện cho Công ty Q đã ua xe trên với giá là 1 500 000 000 đồng Tuy nhiên, để giả các chi phí liên quan đến thủ tục ua bán, hai bên đã lập hợp đồng ua bán ghi nhận số tiền ua bán là 300 000 000 đồng Trong tổng số tiền ua xe 1 500 000 000 đồng thì Công ty Q đã thanh toán cho anh Th bằng tiền ặt được số tiền 1 000 000 000 đồng, c n lại 500 000 000 đồng do chưa hoàn tất thủ tục ua bán, sang tên nên Công ty Q chưa thanh toán hết cho anh Th.
Nay, ông xác định việc Công ty ua xe của anh Th là hoàn toàn ngay tình, hông biết xe đang có tranh chấp và đang có Quyết định phong tỏa của T a án, Công ty Q hông đồng Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH nên ông đề nghị T a án xe xét sớ giải quyết vụ án để Công ty Q được sang tên chính chủ đối với xe đã ua và đưa vào hoạt động
Hiện tại chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006 72 đang được quản l tại trụ sở Công ty Q , chưa đưa vào sử dụng, lưu hành vì c n liên quan đến thủ tục sang tên đối với xe.
T a án đã tiến hành h a giải nhưng hông thành
Tại Bản án dân sự sơ thẩ số 33/2018/DS-ST ngày 25/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của Bà ỗ Thị Ki H, buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải trả cho Bà ỗ Thị Kim H số tiền là: 2 750 000 000 đồng (Hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).
2. Về án phí: Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải chịu 87 000 000 đồng (Tám mươi bảy triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩ
Hoàn trả cho Bà ỗ Thị Ki H số tiền tạ ứng án phí 43 500 000 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0000354 ngày 17 tháng 01 nă 2018
Về chi phí tố tụng khác: Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải thanh toán lại cho Bà ỗ Thị Ki H toàn bộ số tiền chi phí xe xét thẩ định tại chỗ và định gía tài sản là 3 000 000 đồng (Ba triệu đồng).
Ngoài ra, bản án c n tuyên quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự
Ngày 13/11/2018, bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng háng cáo đề nghị cấp phúc thẩ xét xử lại: ề nghị hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH để bảo đả quyền lợi cho anh Th - người trực tiếp nộp tiền vào Ngân hàng để trả nợ vào hoản nợ của ông bà Xe xét lại phần chi phí định giá chiếc xe và ông bà hông đồng thanh toán lại cho Bà H vì việc định giá là hông đúng ề nghị T a án iễn giả tiền án phí cho ông bà vì ông bà đang hó hăn, tài sản hông c n gì vì đã bị ột số chủ nợ xiết lấy hết
Ngày 08/11/2018, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Minh Th háng cáo đề nghị cấp phúc thẩ sửa bản án sơ thẩ để hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH để bảo đả quyền lợi cho ông
Ngày 12/11/2018, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q (viết tắt Công ty CPVTDLTM Quang ông) háng cáo đề nghị cấp phúc thẩ sửa bản án sơ thẩ , hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH và yêu cầu Bà H phải bồi thường thiệt hại cho công ty đối với việc ua xe ô tô hông được hai thác sử dụng do chưa là thủ tục sang tên cho công ty
Tại phiên t a hô nay, bà D là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng ặt và có văn bản trình bày là vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo đề nghị cấp phúc thẩ hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q - ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH; xe xét lại phần chi phí định giá chiếc xe vì việc định giá hông đúng; đề nghị T a án xe xét iễn giả tiền án phí cho bị đơn vì hiện nay hoàn cảnh inh tế bị đơn hó hăn, tài sản hông còn gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q , Anh Nguyễn Minh Th vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Nguyên đơn Bà H hông chấp nhận háng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩ
ại diện Viện iể sát nhân dân t nh Lâ ồng nhận định: Việc chấp hành pháp luật của Thẩ phán trong quá trình thụ l và của Hội đồng xét xử tại phiên t a cũng như của đương sự là đúng pháp luật
ề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 iều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩ .
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp:
Vợ chồng ông N, bà Ng có vay tiền của Bà H nhiều lần; và ngày 22/12/2017, hai bên chốt lại nợ với nhau và viết “Hợp đồng vay tiền” ghi nhận vợ chồng ông N, bà Ng vay của Bà H số tiền là 2 750 000 000 đồng, thỏa thuận thời hạn vay từ ngày 22/12/2017 đến ngày 02/01/2018, nhưng quá thời hạn à bị đơn ông N, bà Ng không trả nợ nên Bà H hởi iện yêu cầu vợ chồng ông N, bà Ng trả nợ.
Do đó, cấp sơ thẩ xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩ quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện LH là đúng pháp luật
Xét háng cáo của bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q ; Anh Nguyễn Minh Th thì thấy rằng:
[2] Theo nguyên đơn thì ngày 06/12/2017, Bà H đã chuyển vào tài hoản số 64610000209114 tại BIDV ang tên Lê Thị Như H để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 850 000 000 đồng và chuyển vào số tài hoản 5404205093550 tại Agriban ang tên Nguyễn Thị H để cho vợ chồng ông N, bà Ng vay số tiền 700 000 000 đồng;
Ngày 14/12/2017, Bà H đã chuyển vào tài hoản số 64610000155916 tại BIDV mang tên Phạ Kiên C để cho ông N, bà Ng vay số tiền là 1 100 000 000 đồng;
Ngày 15/12/2017, Bà H chuyển vào tài hoản số 64310000102923 tại BIDV mang tên inh Thị T để cho ông N, bà Ng vay số tiền 250 000 000 đồng và chuyển vào tài khoản số 5404205032900 tại Agriban ang tên Trần Thị H để cho ông N, bà Ng vay số tiền 500 000 000 đồng Sau đó Bà H giao tiền ặt cho ông N nhận số tiền 350 000 000 đồng
Toàn bộ số tiền ông N, bà Ng đã vay của Bà H là gần 4 000 000 000 đồng Sau đó, ông N, bà Ng sang nhượng cho Bà H diện tích đất cho giá trị là 2 800 000 000 đồng, trong số tiền nhận sang nhượng đất thì Bà H thanh toán cho ông N, bà Ng tiền ặt là 300 000 000 đồng; chuyển vào tài hoản của bà Ng để thanh toán số tiền 1 500 000 000 đồng; c n 1 000 000 000 đồng hai bên thống nhất để ông N, bà Ng cấn trừ trả bớt nợ cho Bà H.
Ngày 22/12/2017, giữa Bà H và ông N, bà Ng tiến hành chốt nợ và là “Hợp đồng vay tiền” ghi nhận vợ chồng ông N, bà Ng có vay của Bà H số tiền 2.750.000.000đồng, thời hạn theo “Hợp đồng vay tiền” này là từ ngày 22/12/2017 đến ngày 02/01/2018 (bút lục số 06)
Theo Bà Phạ Thị D là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng cũng thừa nhận ông N, bà Ng có vay tiền của Bà H nhiều lần từ nă 2015 đến nă 2017 và có vay các hoản tiền và có việc chốt nợ như Bà H trình bày là đúng Nhưng do điều iện đang hó hăn nên ông N, bà Ng xin Bà H giả bớt xuống c n 2 500 000 000đồng vì khi vay tiền hai bên có thỏa thuận lãi là 9 000đồng/1 000 000đồng/01 ngày, từ hi vay đến nay thì vợ chồng ông N, bà Ng đã trả cho Bà H nhiều hoản tiền lãi.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng cũng như bà D là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn hông cung cấp được chứng cứ chứng inh về việc tính lãi và trả lãi là bao nhiêu.
Do đó, Bà H hởi iện buộc vợ chồng ông N, bà Ng phải trả cho Bà H số tiền nợ gốc 2 750 000 000 đồng là có cơ sở nên hông có căn cứ chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng.
[3] ối với háng cáo của bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng về việc xe xét lại phần nhận định của bản án về việc ông bà ua chiếc xe ô tô là mua trả góp, hông phải thế chấp vay tiền; việc ông bà bán xe cho anh Th là để trả nợ ua xe góp cho Ngân hàng hông phải tẩu tán tài sản thì thấy rằng:
Theo biên bản xác inh ngày 11/6/2018 đối với ông Trương Tùng L– Giá đốc Ngân hàng BIDV Việt Na – Chi Nhánh Lâ ồng – Ph ng Giao dịch T (BL số 93) thì tại thời điể vay vốn ngày 26/6/2015 thì chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 đã đứng tên chủ sở hữu là Ông Nguyễn Hải N. Vợ chồng ông N, bà Ng thế chấp xe này để vay vốn ngân hàng theo hình thức vay bảo đả Việc vợ chồng ông N, bà Ng ua xe này như thế nào và ua của ai thì ngân hàng BIDV hông rõ.
Ngày 26/6/2015, vợ chồng bà Ng ới lập hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng BIDV để vay số tiền 1 500 000 000đồng với thời hạn vay là 60 tháng. Như vậy, có căn cứ xác định ông N, bà Ng đã thế chấp chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 cho ngân hàng BIDV để vay tiền chứ hông phải là vay tiền của ngân hàng để ua trả góp cho chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72.
Theo hợp đồng tín dụng được lập ngày 26/06/2015 của Bà Trần Thị Thúy Ng với ngân hàng BIDV thế chấp chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 để vay số tiền 1.500.000.000đồng với thời hạn vay là 60 tháng ể từ ngày hợp đồng có hiệu lực Theo đó, hợp đồng vay tín dụng nói trên của bà Ng với ngân hàng BIDV có thời hạn trả nợ gốc vào ngày 26/06/2020 (BL số 51, 52)
Ngày 15/01/2018, Anh Nguyễn Minh Th và vợ chồng ông N, bà Ng có làm hợp đồng ủy quyền được công chứng tại Văn ph ng công chứng Nguyễn ức Tuấn, theo nội dung của hợp đồng ủy quyền thì ông N, bà Ng ủy quyền cho anh Th được quyền quản l , sử dụng và toàn quyền định đoạt thế chấp, bán, tặng, cho… đối với chiếc xe ô tô hách giường nằ hiệu THACO biển iể soát 49B-006.72 theo giấy chứng nhận đăng xe ô tô số 011668 do Công an t nh Lâ ồng cấp ngày 09/12/2013 đứng tên chủ xe là Ông Nguyễn Hải N (BL số 112-115).
Ngày 16/01/2018, ông N, bà Ng và anh Th có viết ơn ca ết (BL số 124) có nội dung ông N, bà Ng đồng bán chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 cho anh Th với giá tiền là 1 140 000 000 đồng Sau hi là Hợp đồng ủy quyền và viết ơn ca ết thì chiếc xe nói trên do ông N, bà Ng đang thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng BIDV Ph ng Giao dịch T nên anh Th đã trực tiếp nộp số tiền gốc và lãi vào ngân hàng để tất toán hoản nợ của ông N, bà Ng với số tiền là 36 436 398đồng nộp vào ngày 16/01/2018 và số tiền 750 239 583đồng nộp vào ngày 17/01/2018, sau hi nộp tiền tất toán hoản nợ của vợ chồng ông N, bà Ng thì anh Th đã trực tiếp là thủ tục giải chấp tại ngân hàng vào cùng ngày 17/01/2018.
Ngày 19/01/2018, anh Th là Hợp đồng bán chiếc xe nói trên cho Công ty cổ phần vận tải du lịch Quang ông, hợp đồng cũng đã được công chứng tại Văn ph ng công chứng VA tại quận BT, thành phố HCM và xe ô tô anh Th đã giao cho công ty vận tải Quang ông, hiện nay đang được lưu giữ tại trụ sở Công ty Q tại thành phố TH, t nh TH.
Xét thấy, ngày 15/01/2018 thì xe ô tô hách thuộc quyền sở hữu của ông N, bà Ng vẫn đang thế chấp tại ngân hàng, việc các bên là hợp đồng ủy quyền liên quan đến tài sản thế chấp tại ngân hàng nhưng hông có iến của ngân hàng nên các nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng là hông có hiệu lực pháp luật
Hơn nữa, theo anh Th thì hi ông ang Hợp đồng ủy quyền đến Ủy ban nhân dân thị trấn NB để lấy xe thì cán bộ Công an thị trấn NB có giải thích là phải trả hết nợ cho ngân hàng ới được lấy xe, đồng thời Bà H cũng hai hi anh Th lấy xe thì Bà H có yêu cầu giữ xe lại nhưng anh Th xuất trình được hợp đồng ủy quyền của ông N, bà Ng nên Công an đã cho anh Th ang xe đi Như vậy, tại thời điể anh Th thỏa thuận ua bán xe với ông N, bà Ng thì đã biết giữa Bà H với vợ chồng ông N, bà Ng có tranh chấp với nhau
Mặt hác, tại thời điể Bà H gửi đơn hởi iện ra T a án là ngày 05/01/2018 thì đồng thời Bà H đã là đơn yêu cầu áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời phong tỏa tài sản đối với xe ô tô của vợ chồng ông N, bà Ng nhưng do tại thời điể đó xe ô tô vẫn đang thế chấp tại ngân hàng nên Bà H đã rút đơn yêu cầu. Như vậy, bị đơn ông Nam, bà Ng đã biết việc Bà H hởi iện và yêu cầu phong tỏa tài sản của ông N, bà Ng là chiếc xe ô tô, tuy nhiên đến ngày 15/01/2018 ông N, bà Ng vẫn là Hợp đồng ủy quyền với anh Th và ngày 16/01/2018 là ơn ca ết bán xe cho anh Th là có dấu hiệu tẩu tán tài sản nhằ trốn tránh nghĩa vụ trả nợ với Bà H.
Ngoài ra, theo ết quả định giá tài sản (BL số 143, 144) thì chiếc xe ô tô khách giường nằ hiệu THACO, biển iể soát 49B-006.72 có trị giá là 1 438 500 000đồng, bị đơn thỏa thuận bán cho anh Th giá 1 400 000 000đồng, nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng gốc và lãi ch có 786 675 981đồng, số tiền bán xe ô tô c n lại thì bị đơn vẫn hông trả cho Bà H.
Như vậy, việc vợ chồng ông N, bà Ng cho rằng ông bà ua chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006 72 là ua trả góp, hông phải thế chấp vay tiền; việc ông bà bán xe cho anh Th là để trả nợ ua xe góp cho Ngân hàng hông phải tẩu tán tài sản là không có cơ sở chấp nhận
[4] ối với háng cáo của bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q ; Anh Nguyễn Minh Th về việc yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH thì thấy rằng:
Theo quy định tại iều 139, 140, 141 của Bộ luật tố tụng dân sự nă 2015 thì: “Điều 139. Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.
2. Tòa án phải cấp hoặc gửi quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp”.
Điều 140. Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc
không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:
Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 141. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời:
1. Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại Điều 140 của Bộ luật này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.
2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này.
3. Tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng”.
Theo quy định tại iều 139 của Bộ luật tố tụng dân sự nă 2015 thì sau khi ban hành Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018, T a án đã gửi ngay Quyết định này đến Công an t nh Lâ ồng vào ngày 18/01/2018, đồng thời gửi cho các đương sự qua đường bưu điện
Thời hạn thực hiện việc hiếu nại hay iến nghị đối với Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời theo quy định tại iều 140 Bộ luật tố tụng dân sự nă 2015 là 03 ngày là việc ể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Th xác định anh nhận được Quyết định này vào ngày 20/01/2018 nhưng đến ngày 30/01/2018 anh ới có đơn hiếu nại Quyết định số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018. Ngày 02/02/2018, Chánh án T a án nhân dân huyện LH đã có Quyết định giải quyết hiếu nại số 02/2018/Q -GQKN và hông chấp nhận hiếu nại của anh Th giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH (BL số 46)
Mặt hác, giao dịch giữa anh Th với ông N, bà Ng trên cơ sở “Giấy ca ết V/v ua bán xe” lập ngày 16/01/2018 là trong lúc xe đang thế chấp tại Ngân hàng BIDV, nhưng các bên giao dịch ua - bán hông có tài liệu, văn bản nào chứng inh việc ua bán giữa các bên được sự đồng của Ngân hàng BIDV Do đó, theo quy định tại Khoản 5 iều 321 của Bộ luật tố tụng dân sự nă 2015 thì giao dịch ua bán xe ô tô biển iể soát 49B-006.72 giữa anh Th với vợ chồng ông N, bà Ng ngày 16/01/2018 là vô hiệu
Tại thời điể Bà ỗ Thị Ki H có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời cho đến hi cấp sơ thẩ ở phiên t a xét xử sơ thẩ công hai thì chiếc xe ô tô khách giường nằ hiệu THACO biển iể soát 49B-006.72 vẫn đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Hải N.
Như vậy, theo quy định trên thì quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời có hiệu lực thi hành ngay và việc iến nghị, hiếu nại về quyết định áp dụng biên pháp hẩn cấp tạ thời được giải quyết theo quy định tại iều 140, 141 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015 Do đó, các đương sự ch có quyền hiếu nại việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc hông áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp hẩn cấp tạ thời chứ hông có quyền háng cáo Và việc giải quyết hiếu nại sẽ được giải quyết bằng ột quyết định riêng biệt
Theo quy định tại Thông tư về ăng
xe số: 15/2014/TB-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an cũng như Thông tư số: 64/2017/TT-BCA ngày 28/12/2017 sửa đổi, bổ sung ột số điều của Thông tư về ăng
xe số: 15/2014/TB-BCA ngày 04/4/2014 thì hi tổ chức, cá nhân ua xe thì phải đăng sang tên theo quy định Hiện nay, chiếc xe ô tô biển iể soát 49B-006 72 vẫn đứng tên giấy chứng nhận đăng xe là Nguyễn Hải N; cũng chưa là thủ tục đăng sang tên từ Ông Nguyễn Hải N qua cho anh Nguyễn Minh Th; và cũng chưa là thủ tục đăng sang tên từ Anh Nguyễn Minh Th cho Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q theo quy định
Xét thấy, việc bị đơn bán xe cho anh Th là hành vi tẩu tán tài sản nên Bà H đã làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời phong tỏa tài sản đối với xe ô tô của vợ chồng ông N, bà Ng; do đó, việc cấp sơ thẩ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Do vậy, hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh Th; Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q về việc yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q -ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện LH.
[5] ối với háng cáo của bị đơn về việc hông đồng thanh toán chi phí tố tụng thì thấy rằng:
Việc xe xét, thẩ định tại chỗ cũng như định giá tài sản là thủ tục cần thiết khi giải quyết vụ án này Do yêu cầu hởi iện của nguyên đơn được chấp nhận nên cấp sơ thẩ buộc bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải thanh toán lại cho Bà ỗ Thị Ki H toàn bộ số tiền chi phí xe xét thẩ định tại chỗ và định giá tài sản 3 000 000 đồng là có căn cứ, nên hông có căn cứ chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng về vấn đề này
[6] ối với háng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q yêu cầu Bà H phải bồi thường thiệt hại cho công ty đối với việc ua xe ô tô hông được hai thác sử dụng do chưa là thủ tục sang tên cho công ty thì thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều hông yêu cầu xe xét giải quyết liên quan đến các hợp đồng ua bán xe trong vụ án này, đến ngày 22/10/2018, T a án nhận được đơn đề nghị xét xử vắng ặt của ông – ại diện cho Công ty Q có iến đề nghị T a án xét xử vụ án cho Công ty “được tiếp tục mua bán xe ô tô” biển iểm soát 49B-006.72. Tuy nhiên, iến của ông gửi đến T a án sau hi vụ án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử à Công ty Q hông có đơn yêu cầu độc lập trong quá trình T a án giải quyết vụ án nên hông có cơ sở xe xét giải quyết liên quan đến các hợp đồng ua bán xe nêu trên trong vụ án này
Nay yêu cầu Bà H phải bồi thường thiệt hại cho công ty đối với việc ua xe ô tô hông được hai thác sử dụng do chưa là thủ tục sang tên cho công ty là hông có căn cứ xe xét do tại Tòa án cấp sơ thẩ chưa xe xét vấn đề này Do vậy, đương sự được quyền hởi iện và sẽ được T a án xe xét giải quyết bằng vụ án hác
[7] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng có đơn xin iễn nộp tiền án phí do gia đình có hoàn cảnh inh tế hó hăn và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn NB, huyện Lâ Hà xác nhận nội dung hoàn cảnh hó hăn.
Theo quy định tại Khoản 1 iều 13 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì: “Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp”. Theo quy định trên thì cần giả ½ án phí dân sự sơ thẩ cho bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng là có cơ sở
Từ những phân tích trên, hông chấp nhận yêu cầu háng cáo bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh Th; Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q ; giữ nguyên bản án về phần nội dung; sửa bản án dân sự sơ thẩ về phần án phí là có căn cứ
[8] Về án phí dân sự sơ thẩ :
- Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải chịu 87 000 000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩ nhưng được giả ½ nên vợ chồng ông N, bà Ng ch phải nộp 43 500 000đồng án phí dân sự sơ thẩ .
- Hoàn trả lại cho Bà ỗ Thị Ki H số tiền tạ ứng án phí 43 500 000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0000354 ngày 17/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
[9] Về chi phí tố tụng hác:
- Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải thanh toán lại cho Bà ỗ Thị Ki H toàn bộ số tiền chi phí xe xét thẩ định tại chỗ và định gía tài sản là 3 000 000 đồng (Ba triệu đồng).
[10] Về án phí dân sự phúc thẩ :
- Do sửa án sơ thẩ về phần án phí nên các đương sự háng cáo hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩ .
- Hoàn trả lại cho bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do Bà Phạ Thị D đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000827 ngày 19/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Minh Th số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do ông Nguyễn Thế Hùng đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000826 ngày 16/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do bà Phạ Thị Chinh đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000834 ngày 26/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
- Căn cứ vào Khoản 2 iều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn giả , thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận ột phần yêu cầu háng cáo của bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng về phần xin giả tiền án phí;
- Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn vợ chồng ông N, bà Ng về việc yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q - ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH; hoản nợ vay và chi phí tố tụng.
- Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh Th và Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q về việc yêu cầu hủy Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 01/2018/Q - ADBPKCTT ngày 18/01/2018 của T a án nhân dân huyện LH. Sửa bản án sơ thẩ Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu hởi iện của Bà ỗ Thị Ki H đối với bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản;
- Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải trả cho Bà ỗ Thị Ki H số tiền là: 2 750 000 000 đồng (Hai tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậ trả theo ức lãi suất quy định tại Khoản 2 iều 357 Bộ luật dân sự 2015
2/ Về án phí dân sự sơ thẩ :
- Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải chịu 43 500 000đồng án phí dân sự sơ thẩ ( ã được giả ½).
- Hoàn trả lại cho Bà ỗ Thị Ki H số tiền tạ ứng án phí 43 500 000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0000354 ngày 17/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
3/ Về chi phí tố tụng hác:
- Buộc vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng phải thanh toán lại cho Bà ỗ Thị Ki H toàn bộ số tiền chi phí xe xét thẩ định tại chỗ và định giá tài sản là 3 000 000 đồng (Ba triệu đồng).
4/ Về án phí phúc thẩ :
- Hoàn trả lại cho bị đơn vợ chồng Ông Nguyễn Hải N, Bà Trần Thị Thúy Ng số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do Bà Phạ Thị D đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000827 ngày 19/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Anh Nguyễn Minh Th số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do ông Nguyễn Thế Hùng đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000826 ngày 16/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vận tải du lịch thương ại Q số tiền 300 000đồng tạ ứng án phí phúc thẩ (do bà Phạ Thị Chinh đã nộp thay) theo biên lai thu số AA/2016/0000834 ngày 26/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LH.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại iều 2 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các iều 6, iều 7, iều 7a, iều 7b và iều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại iều 30 - Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung nă 2015”
Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án /
| Nơi nhận: - VKSND t nh Lâ ồng; - TAND H. Lâm Hà; - CCTHADS H. Lâm Hà; - Phòng KTNV&THA; - Các đương sự; - Lưu AV – HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Hữu Nhân |