vanban.org

Bản án 49/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2026/HS-ST
Ngày 04-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều My.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Trung, bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Minh T; tên gọi khác: không; sinh ngày 15 tháng 6 năm 1997 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Buôn M, phường E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị T2; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 02 tháng 6 năm 2024 bị Công an thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Đánh bạc, tại Quyết định số 5699/QĐ-XPHC. Ngày 12 tháng 6 năm 2024 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 15/10/2025 đến ngày 25/10/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Lê Thị T2, sinh năm 1963. Địa chỉ: Buôn M, phường E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số C P, phường E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

+ Bà Lê Thị T4, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số B Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

- Người chứng kiến:

+ Ông Lương Lê Thế B, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số B Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

+ Ông Đoàn Hoàng N, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Minh T là người sử dụng chất ma túy, loại Ketamine (hay còn gọi là ma túy khay). Ngày 12 tháng 10 năm 2025, Thông sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, gắn sim số 0706.103.782 của T đăng nhập tài khoản mạng xã hội S có tên “Califax Bôn” liên hệ với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy, loại Ketamine thì người này đồng ý bán và gửi vị trí gói ma túy được cất trong gói thuốc lá JET, màu trắng để ở lề đường khu vực nghĩa trang, đường P, phường T, tỉnh Đắk Lắk để cho T đến lấy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH mode, màu đỏ đen, biển số 47B2-475.78 đến điểm hẹn lấy ma túy, rồi bỏ tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng vào lại gói thuốc lá JET cho người này. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15 tháng 10 năm 2025, Thông sử dụng điện thoại di động liên lạc với Lương Lê Thế B, rủ B đi uống cà phê ở quán cà phê Nâu 2, tại địa chỉ số B đường T, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH mode, biển số 47B2-475.78 đến quán C2 thì thấy B đang ngồi một mình. T nói B: “Mày đi mua cho anh gói thuốc với cái bật lửa!”, thì B đồng ý. Tại quán, T lấy từ trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc ra 01 (một) túi zip bên trong chứa tinh thể màu trắng bỏ lên tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, rồi lấy 01 (một) ly thủy tinh của quán cà phê nghiền ma túy trong tờ tiền thành bột, rồi lấy một ít ma túy bỏ lên tay, hít trực tiếp vào cơ thể. Số ma túy còn lại trong túi Z, T cất trong túi quần phía trước, bên phải và số mà túy còn lại trong tờ tiền, T gói lại cất sau ốp điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max. Sau khi T sử dụng ma túy xong, B quay lại quán đưa cho T 01 gói thuốc JET màu trắng, 01 bật lửa màu tím, cả hai ngồi nói chuyện một lúc thì T đi về. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, trong khi T ra lấy xe mô tô để đi về thì bị Công an phường E, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang. Thông tự giác giao nộp: 01 (một) túi zip màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng), bên trong có chứa chất bột màu trắng cất sau ốp lưng điện thoại có chất bột màu trắng bám dính bên trong. T khai nhận là ma túy khay, tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình bắt quả tang, Công an phường E, tỉnh Đắk Lắk còn tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, số Imei 1: 353888107394414, Imei 2: 353888107413420; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH mode, màu đỏ đen, biển số 47B2-475.78; 01 (một) ly thủy tinh.

* Kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Đ, ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với Dương Minh T cho kết quả âm tính với các chất ma tuý; đối với Lương Lê Thế B cho kết quả dương tính với chất ma tuý, loại Amphetamine.

* Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận:

“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi zíp được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine, khối lượng: 0,4357 gam.

Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) tờ tiền 5.000 đồng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine, có khối lượng 0,1144 gam.

Chất bột màu trắng bám dính bên trong 01 (một) ốp điện thoại được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Vì lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

H lại đối tượng gửi giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định bên trong 01 (một) túi zíp có khối lượng 0,4317 gam, bên trong 01 (một) tờ tiền 5.000 đồng có khối lượng: 0,1076 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.”.

* Tại Kết luận giám định số 911/KL-KTHS ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: “Mẫu nước tiểu bên trong 01 (một) vỏ chai nhựa hình trụ nắp màu trắng, bên ngoài dán giấy ghi “Dương Minh T”, được niêm phong gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại: Ketamine.”.

* Tại Kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: “Mẫu nước tiểu màu nâu đen được niêm phong gửi giám định (thu của Lương Lê Thế B) tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine (Amphetamine)”.

* Tại Kết luận giám định số 1278/KL-KTHS ngày 26 tháng 12 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu SH MODE (HONDA), mang biển số 47B2-475.78, có: Hàng chữ số RLHJF5139GY377110 đóng ở khung xe (dưới yên xe) và hàng chữ số JF51E-0718711 đóng ở thân máy là hai hàng chữ số nguyên thủy của xe”.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường E, tỉnh Đắk Lắk kết luận: “01 (một) xe mô tô, màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, biển số 47B2-475.78, đã qua sử dụng, mua vào tháng 12 năm 2018 tại thời điểm định giá ngày 15 tháng 10 năm 2025, có giá là 41.300.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu ba trăm nghìn đồng)”.

Cáo trạng số 95/CT-VKS-KV1 ngày 30 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk truy tố đối với bị cáo Dương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà bị cáo Dương Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Dương Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Xử phạt bị cáo Dương Minh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý như sau:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị T2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SH Mode, màu sơn đỏ đen, biển số 47B2-475.78, số khung RLHJF5139GY377110, số máy JF51E0718711, dung tích xi lanh 124.9 cm3.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,4317 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 túi zip và 0,1076 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 tờ tiền 5.000 đồng, còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 892/KL-KTHS ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk, 01 (một) ốp điện thoại màu trắng, 01 (một) ly thủy tinh, màu trắng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, số Imei 1: 353888107394414, Imei 2: 353888107413420.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 18 giờ 55 phút ngày 15 tháng 10 năm 2025, tại quán cà phê N, ở địa chỉ số B đường T, phường E, tỉnh Đắk Lắk, Dương Minh T đã tàng trữ trái phép 0,4357 gam ma túy, loại Ketamine trong 01 (một) túi zip để trong túi quần đang mặc, bên phải và 0,1144 gam ma túy, loại Ketamine trong 01 (một) tờ tiền 5.000 đồng (năm nghìn đồng), để bên trong ốp lưng của điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max. Dương Minh T khai nhận số ma túy trên T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường E, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang, tạm giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Dương Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

a)………

c) Heroine, C1, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc RLX-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………”.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý về ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được rằng mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, có lối sống buông thả, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk truy tố đối với bị cáo Dương Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Dương Minh T có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Dương Minh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Minh T đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có bố đẻ là ông Dương Văn T1 được Chủ tịch N2 tặng Huân chương đại đoàn kết dân tộc, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với: 0,4317 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 túi zip và 0,1076 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 tờ tiền 5.000 đồng, còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 892/KL-KTHS ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đắk Lắk, là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với: 01 (một) ốp điện thoại màu trắng, bị cáo Dương Minh T sử dụng cất giấu ma túy, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng), bị cáo Dương Minh T dùng để đựng ma túy, là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, số Imei 1: 353888107394414, Imei 2: 353888107413420, thuộc sở hữu của bị cáo Dương Minh T, sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với: 01 (một) ly thủy tinh, màu trắng mà bị cáo Dương Minh T sử dụng để nghiền ma túy, là tài sản thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T3 (chủ quán cà phê N1 2), bà T3 không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SH Mode, màu sơn đỏ đen, biển số 47B2-475.78, số khung RLHJF5139GY377110, số máy JF51E0718711, dung tích xi lanh 124.9 cm3, tạm giữ của bị cáo T. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên do ông Dương Văn T1 (là bố đẻ bị cáo T, chết năm 2024 không để lại di chúc) đứng tên đăng ký chủ sở hữu xe. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe mô tô trên cho bà Lê Thị T2 (là mẹ ruột của bị cáo T, đại diện cho những người thừa kế hợp pháp của ông T1) nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.

Các tình tiết khác của vụ án:

Đối với nguồn gốc số ma túy, bị cáo T khai nhận mua qua tài khoản mạng xã hội Signal của người nam thanh niên ở khu vực nghĩa trang, đường P, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên nên đã tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Lương Lê Thế B, không biết việc bị cáo T tàng trữ trái phếp chất ma túy và cũng không sử dụng chất ma túy cùng với bị cáo T. Kết quả xét nghiệm ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với Lương Lê Thế B cho kết quả dương tính với chất ma tuý, loại Amphetamine. Do đó, Công an phường E, tỉnh Đắk Lắk đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với B và không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị T3, là chủ quán cà phê Nâu 2, ở địa chỉ số B T, phường E, tỉnh Đắk Lắk. Việc bị cáo T lấy ly thuỷ tinh của quán cà phê N1 2 để nghiền ma túy và sử dụng ma túy tại quán cà phê, thì bà T3 không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đề cập xử lý đối với bà T3 và quán cà phê Nâu 2 là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T, Công an phường E, tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Dương Minh T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị bắt phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 15/10/2025 đến ngày 25/10/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Lê Thị T2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại SH Mode, màu sơn đỏ đen, biển số 47B2-475.78, số khung RLHJF5139GY377110, số máy JF51E0718711, dung tích xi lanh 124.9 cm3.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,4317 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 túi zip và 0,1076 gam ma túy, loại Ketamine còn lại bên trong 01 tờ tiền 5.000 đồng, còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 892/KL-KTHS ngày 23 tháng 10 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, 01 (một) ốp điện thoại màu trắng, 01 (một) ly thủy tinh, màu trắng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (năm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro Max, số Imei 1: 353888107394414, Imei 2: 353888107413420.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Đắk Lắk).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dương Minh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ