- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị Lan - Lường Văn Thanh - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lường Thị L được ly hôn với anh Lường Văn T
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 49 /2026/DS-ST Ngày: 02-6-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐB
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bạc Thị Liên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lụa
Ông Nguyễn Quốc Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Đặng Phương L - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đ, tỉnh Đ;
Ngày 02 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- ĐB xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2026/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 03 năm 2026 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2026/QĐXX-ST ngày 29 tháng 04 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà số 44/2026/QĐST-HNGĐ ngày 18/5/2026
- Nguyên đơn: Chị Lường Thị L - Sinh năm: 2003; Địa chỉ: B 2, xã Búng Lao, tỉnh Điện Biên. Có mặt
- Bị đơn: Anh Lường Văn T - Sinh năm: 2000; Địa chỉ: Bản Nà Nọi 2, xã M, tỉnh Đ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 26/2/2026 và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân khu vực 1- Đ, chị Lường TL (nguyên đơn) trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và anh Lường Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố Đ Phủ (nay là xã Mường P), tỉnh Đ vào ngày 20/7/2023. Sau khi cưới tôi và anh T sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa tôi và anh T ngày càng xấu đi mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên giải quyết việc ly hôn giữa tôi và anh Lường Văn T.
- Về con chung: Chúng tôi có 1 con chung là cháu Lường Thùy L, sinh ngày 10/10/2023. Nguyện vọng của tôi sau khi ly hôn là tôi được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng đối với con chung tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản: Không có
2. Đối với bị đơn: Ngày 02/4/2026, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân khu vực 1- Đi, tỉnh Điện Biên đã thông báo nội dung đơn xin ly hôn với các yêu cầu cụ thể của chị Lường Thị L cho anh Lường Văn T được biết, giao Thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh T. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Thông báo thụ lý vụ án, anh T không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Tòa án. Tòa đã triệu tập nhiều lần và tiến hành giao Thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải vụ án hợp lệ cho anh T, nhưng anh T vẫn không đến Tòa. Do vậy Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật hôn nhân gia đình đối với các đương sự. Ngày 29/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 1- Đi, tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa và tiến hành tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh T đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ tại điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
3. Tại phiên tòa hôm nay, chị Lường Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày. Anh Lường Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về Tố tụng: Bị đơn có địa chỉ tại Bản N 2, xã M, tỉnh Đ do vậy vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1- Điện Biên theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân kh 1- Đ đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 177/BLTTDS, việc anh Lường Văn T không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70,72/BLTTDS là do anh T đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, cho nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Lường Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân X, (nay là Xã M), tỉnh Đ. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.
Theo lời khai của chị L cho thấy và đơn xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND xã B cho thấy: Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên sống xa nhau, không giành thời gian quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa 2 người ngày càng xấu đi mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Bản thân chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thanh.
Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án anh T không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Toà về yêu cầu khởi của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của chị Lường Thị L và giải thoát cho chị thoát khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không còn đem lại hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì mục đích của hôn nhân không đạt được. Hai anh chị không dành thời gian chung sống chăm sóc giúp đỡ nhau, theo Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hai anh chị không muốn thực hiện quyền và nghĩa vụ qui định tại điều luật này do hai anh chị xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, trầm trọng. Bản thân anh Thanh không có ý định hàn gắn tình cảm như vậy không thể đảm bảo hạnh phúc gia đình cho chị Lan. Áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Lường Thị L xử cho ly hôn chị Lường Thị L và anh Lường Văn T.
. Về con chung: Xét thấy hiện tại chị L mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung bởi cháu Lương Thuỳ L còn nhỏ.
Theo xác nhận của UBND xã B do anh T thường xuyên vắng nhà và cũng không có ý định hàn gắn tình cảm với chị L mà bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc cũng không về chung sống cùng 2 mẹ con chị L. Hai anh chị đã ly thân hơn 3 năm nay. Như vậy không đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ. HĐXX căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận nguyện vọng của chị L.
Giao cháu Lường Thùy L, sinh ngày 10/10/2023 cho chị Lường Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.
. Về án phí: Chị L là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn của xã thuộc diện miễn án phí và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 chị L được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 19, Điều 69, Điều 81, 82, 83, 84 của Điều 19 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Lường Thị L được ly hôn với anh Lường Văn T
2. Về con chung: Chị Lường Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Thùy L, sinh ngày 10/10/2023 cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS, điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lường Thị L được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 1 – Điện Biên; - Các đương sự; - THADS tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẦM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạc Thị Liên |