vanban.org

Bản án 49/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thanh T đối với bà Phan Thị G về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Phan Thị G có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thanh T số tiền vay là 115.217.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng), bao gồm 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) tiền nợ gốc, 15.217.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng) tiền lãi. Kể từ ngày bản án có hiệu l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Mai Thanh Trúc - Phan Thị Gái"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thanh T đối với bà Phan Thị G về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 49/2026/DS-ST
Ngày: 06/3/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Bích Vân.

Ông Nguyễn Tường Bích.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long. Ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 259/2025/TLST-DS, ngày 05 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXX-ST ngày 05 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2026/QĐST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thanh T, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Bà Phan Thị G, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp E, xã B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 12/6/2025, Bản tự khai ngày 29/01/2026 và những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Mai Thanh T là ông Đặng Văn T1 trình bày như sau:

Do có quen biết từ trước nên vào ngày 24/3/2023, bà Mai Thanh T có cho bà Phan Thị G vay số tiền 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng), không lãi suất, thời hạn vay 01 năm, khi vay có viết giấy nợ.

Tuy nhiên, sau khi đến hạn trả nợ cho đến nay, bà Phan Thị G không trả nợ dù bà T nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu trả nợ.

Do đó, bà Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị G trả số tiền vay gốc là 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi 10%/năm từ ngày 24/8/2024 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án (06/3/2026) với số tiền 15.217.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ cho bà Phan Thị G các văn bản tố tụng nhưng bà Phan Thị G vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà Phan Thị G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu bà Phan Thị G trả số tiền nợ vay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Đơn xác nhận địa chỉ nơi cư trú bị đơn ngày 12/6/2025 của Công an xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là Công an xã B, tỉnh Vĩnh Long) thì bà Phan Thị G có đăng ký thường trú tại ấp E, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp E, xã B, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phan Thị G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng bà G vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà Phan Thị G là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Bà Mai Thanh T khởi kiện cho rằng có cho bà Phan Thị G vay số tiền 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) đến nay chưa trả. Vì vậy, bà Mai Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Phan Thị G trả số tiền nợ 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi 10%/năm từ ngày 24/8/2024 đến ngày Tòa án giải quyết xong vụ án (06/3/2026). Cơ sở khởi kiện là “Giấy mượn tiền ngày 24/8/2023”.

Xét, “Giấy mượn tiền ngày 24/8/2023” có ghi rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể của bà Phan Thị G, thể hiện rõ bà G đã nhận đủ số tiền vay 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng).

Phía nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên cho vay là giao tài sản cho bên vay đầy đủ. Tuy nhiên, khi có yêu cầu trả nợ của bà Mai Thanh T thì bà Phan Thị G không trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị G đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ, thông báo về việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án và triệu tập đến Tòa án để trình bày ý kiến cũng như tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án nhưng bà Phan Thị G vẫn vắng mặt không lý do, không có ý kiến, đã thể hiện tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bà Phan Thị G nếu có ý kiến phản đối đối với các yêu cầu, tài liệu, chứng cứ của bà Mai Thanh T thì phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó nhưng bà Phan Thị G không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho sự phản đối của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử giải quyết vụ việc theo những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc là đúng quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những căn cứ trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thanh T về số tiền vay 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) là có cơ sở và phù hợp với quy định tại các Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về yêu cầu tính lãi suất hợp đồng vay: Bà Mai Thanh T yêu cầu tính lãi số tiền vay với lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 24/8/2024 cho đến ngày Tòa án giải quyết vụ án (ngày 06/3/2026).

Xét thấy, từ khi hết hạn hợp đồng đến nay, bà G không thanh toán nợ cho bà Mai Thanh T. Do đó, bà T yêu cầu tính lãi chậm trả 10%/năm số tiền vay nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể:

100.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 6 tháng 10 ngày = 15.217.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).

Vậy, bà Phan Thị G có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thanh T số tiền vay là 115.217.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng), bao gồm 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) tiền nợ gốc, 15.217.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng) tiền lãi.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bà Mai Thanh T không phải chịu án phí và bà Phan Thị G phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Cụ thể:

115.217.000 đồng x 5% = 5.760.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 4 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thanh T đối với bà Phan Thị G về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

2. Buộc bà Phan Thị G có nghĩa vụ trả cho bà Mai Thanh T số tiền vay là 115.217.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng), bao gồm 100.000.000 đồng (Một năm triệu đồng) tiền nợ gốc, 15.217.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Phan Thị G phải chịu số tiền án phí là 5.760.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Hoàn lại cho bà Mai Thanh T số tiền tạm ứng án phí 2.687.500 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0007634 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ