- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Choi P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Triệu Chòi P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HSST Ngày: 16/5/2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Khiếu.
2. Ông Nông Văn Quân.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại hội trường Ủy ban nhân dân phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47 /2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Triệu Chòi P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28 tháng 11 năm 1994, tại tỉnh B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn N, huyện Ng, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Dào C và bà Phùng Mùi V; có vợ là Phùng Mùi Ph (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010); tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 25/12/2024, hiện nay đang tại ngoại. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Triệu Thị L, sinh năm 1994, nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại: Tổ dân phố L, thị trấn N, huyện Ng, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 17/12/2024, tại khu vực tổ 1, phường S, thành phố B1, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B1 bắt quả tang Triệu Chòi P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Tại túi áo đằng trước bên trái Triệu Chòi P đang mặc 01 (một) gói được gói bằng giấy một mặt in hình, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng lẫn màu hồng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu đỏ, đen mang biển kiểm soát 97B1- 423.xx cùng chìa khóa xe đã qua sử dụng.
Cùng ngày cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Triệu Chòi P tại tổ dân phố L, thị trấn N, huyện Ng, tỉnh B. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Triệu Chòi P khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng lẫn màu hồng Cơ quan điều tra thu giữ trong túi áo đằng trước bên trái Triệu Chòi P đang mặc là ma túy của Triệu Chòi P tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Triệu Chòi P khai: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 17/12/2024, P điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B1- 423.xx đi từ thị trấn N, huyện Ng đến thành phố B1 để mua vật liệu xây dựng, sau khi mua xong thì nảy sinh ý định tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 16 giờ cùng ngày, P điều khiển xe đi đến vườn hoa tại phố đi bộ S1 thuộc tổ 1, phường S, thành phố B1 thì gặp một người đàn ông đang đi bộ. Qua nói chuyện, biết người này bán ma túy nên đã hỏi mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy, sau khi đưa tiền thì nhận được 01(một) gói ma túy được gói bằng giấy một mặt in hình, một mặt màu trắng. Sau khi mua được ma túy, P cất giấu vào trong túi áo đằng trước bên trái đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt quả tang và bị thu giữ số ma túy cùng các đồ vật, tài liệu khác.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng lẫn màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Triệu Chòi P xác định khối lượng là 0,16g (không phẩy một sáu gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng lẫn màu hồng được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu M1 để gửi giám định ma túy. Vỏ phong bì ký hiệu A1 và giấy gói cũ được niêm phong lại trong phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 15/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine và loại Methamphetamine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NG-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
- Mẫu chất bột màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là: 0,16g (không phẩy một sáu gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu M1 còn lại cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T12 hoàn trả lại cho cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTP ngày 17/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Triệu Chòi P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
…
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Triệu Chòi P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 25/12/2024.
Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T12; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Ngày 17/12/2024 tại tổ 1, phường S, thành phố B1, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B bắt quả tang Triệu Chòi P có hành vi tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy một sáu gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu đỏ đen mang BKS 97B1 – 423.xx. Qua điều tra xác định là tài sản của bà Triệu Thị L. Việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy bà L không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B1 đã trả lại xe cho bà L là đúng quy định. Tại phiên tòa bà L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến, đề nghị gì.
- 01 (một) phong bì ký hiệu T12, chứa 0,12g (không phẩy mười hai gam) ma túy cùng phong bì, bao gói cũ là mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ. Tất cả là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Triệu Chòi P, nhưng do P không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Triệu Chòi P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Triệu Chòi P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 25/12/2024.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T12, chứa 0,12g (không phẩy mười hai gam) ma túy cùng phong bì, bao gói cũ là mẫu hoàn trả sau giám định; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2, bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B1.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Chòi P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND thành phố; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh ; - Phòng Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp CA tỉnh (PC10); - Chi cục THADS thành phố; - Bị cáo; - Người có quyền nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |