- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Sỹ H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:49/2025/HSST Ngày: 22/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thủy.
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Tôn.
2. Ông Lê Đức Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Ma Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXX-ST ngày 11/4/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Sỹ H; Tên gọi khác: Không, Sinh năm 1971 tại Phổ Yên; nơi cư trú: Xóm T2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12 ; giới tính: Nam. dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Sỹ D và bà Nguyễn Thị N; có vợ là: Phạm Thị B, vợ chồng bị cáo có 02 con chung (con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1992).
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án phúc thẩm số 867/2006/HSPT ngày 11/7/2006 của Tòa Phúc thẩm tại, Toà án nhân dân Tối Cao xử phạt 09 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuy”. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 27/9/2012 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm, tạm giam giữ từ ngày 18/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1983;
Trú tại: Xóm XH3, xã TC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1992;
Trú tại: Xóm T2, xã TC, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
(Anh X và anh K đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, Tổ công tác của Công an xã Thành Công, thành phố Phổ Yên đang tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã Thành Công thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp có 01 đối tượng nam giới (sau xác định là Phạm Sỹ H) đang đi bộ ở khu vực ngã ba Gò Đồn thuộc xóm Xuân Dương, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, H tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác từ trong túi áo khoác da bên trái H đang mặc 01 gói giấy bạc, bên trong có 03 gói giấy bạc (trong đó 02 giấy bạc đều có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục và 01 gói giấy bạc có chứa viên nén màu đỏ). Theo H khai nhận toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng đục nêu trên là ma tuý loại Heroine, còn viên nén màu đỏ là ma túy tổng hợp thường gọi là “ngựa” của H mua về mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và niêm phong toàn bộ số vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân tổng khối lượng toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng đục được 0,206 gam, niêm phong vào phong bì ký hiệu K1; 01 viên nén màu đỏ được 0,099 gam, niêm phong vào phong bì ký hiệu K2 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số: 56/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn dạng cục màu trắng đục trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Heroin). Khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,206 gam; Viên nén màu đỏ trong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,099 gam.
Quá trình điều tra xác định được: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, H đi nhờ xe của người đi đường từ nhà thuộc xóm T2, xã TC, thành phố Phổ Yên đến khu vực hồ Đại Lải thuộc thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, H đứng đợi khoảng 15 phút thì có một người nam giới (H không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô đến gần vị trí H đứng. Do biết là người bán ma túy vì H đã mua một vài lần nên H hỏi người nam giới “Để cho hai cái với một viên ngựa” tức là H hỏi mua của người nam giới 02 (hai) gói ma túy loại Heroine, mỗi gói 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và 01 (một) viên ma túy tổng hợp thường gọi là “ngựa” với giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng). Người nam giới đồng ý bán ma túy cho H. H đưa cho người nam giới 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) thì người nam giới đưa lại cho H 01 (một) gói giấy bạc, bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc (trong đó 02 (hai) giấy bạc đều có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục và 01 (một) gói giấy bạc có chứa viên nén màu đỏ). Sau khi mua được ma túy, H cất giấu ở trong túi áo khoác da bên trái đang mặc, đợi một lúc rồi đi nhờ xe người đi đường về xã Thành Công, thành phố Phổ Yên. Khi đi đến khu vực ngã ba Gò Đồn thuộc xóm Xuân Dương, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên thì H xuống xe đi bộ tìm chỗ để sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ như nêu ở trên.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Phạm Sỹ H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo thừa nhận ngày 18/12/2024 đã có hành vi tàng trữ 0,305 gam ma túy (trong đó có 0,206 gam ma túy loại Heroine và 0,099 gam ma túy loại Methamphetamine) với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích gì khác.
Cáo trạng số: 52/CT- VKSPY ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Sỹ H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc thẩm vấn đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phạm Sỹ H từ 30 đến 36 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả lại 0,192 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn lại vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho.
Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để nộp ngân sách Nhà nước.
Phần tranh luận: Bị cáo H không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Tại phiên tòa người chứng kiến anh X và anh K vắng mặt. Bị cáo H và đại diện viện Kiểm sát đều đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy anh X và anh K đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục xét xử là đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Sỹ H tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, Bản kết luận giám định chất ma tuý và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 18/12/2024, tại khu vực xóm Xuân Dương, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Phạm Sỹ H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam ma túy (trong đó có 0,206 gam ma túy loại Heroine và 0,099 gam ma túy loại Methamphetamine) mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu ở trên. Như vậy hành vi, ý thức nêu trên của Phạm Sỹ H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Phạm Sỹ H theo tội danh và Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:....
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, xuất phát từ việc nghiện ma tuý, bị cáo đã đi mua ma tuý về để sử dụng cho bản thân từ đó đã dẫn bị cáo đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, tiếp tay cho những đối tượng mua bán chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, làm cho nhân dân bất bình. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động được gia đình nuôi ăn học đến lớp 7 thì nghỉ học. Bị cáo đã không chịu tu dưỡng rèn luyện nên đã mắc nghiện ma tuý rồi dẫn đến việc phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và phải đi chấp hành hình phạt tù vể tội phạm liên quan đến ma tuý, nhưng bị cáo đã không từ bỏ được ma tuý và không lấy đó làm bài học để nghiêm khắc sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tôi, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt được.
Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đề nghị tại phiên toà là phù hợp, được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội không mang tính vụ lợi, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả lại 0,192 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn lại vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho. Đây là số ma tuý còn lại sau giám định và là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn giảm án phí, lệ phí tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Heroine và ma túy Methamphetamine thu giữ của Phạm Sỹ Huấn, Huấn khai mua của một người nam giới (không biết tên tuổi, địa chỉ) ở khu vực hồ Đại Lải, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. H không xác định được người bán ma tuý cho Huấn là ai. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/12/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Ra quyết định tạm giam bị cáo Phạm Sỹ H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K1 ghi hoàn trả lại 0,192 gam mẫu K1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K2 ghi hoàn lại vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu L ghi lưu kho.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 31/3/2025).
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Sỹ H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà Nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên toà, báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Phổ Yên; - Công an thành phố Phổ Yên; - CCTHA thành phố Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND xã TC; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên) Hà Thị Thu Thủy |