vanban.org

Bản án 49/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tín… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HSST
Ngày: 23- 6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khanh và bà Lê Thị Phương Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; ĐKHK và nơi cư trú: thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q6 và bà Vũ Thị C6; vợ: Nguyễn Thị H6; có 01 con sinh năm 2008; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất.

Nhân thân:

+ Quyết định số 53/QĐ-XPHC ngày 22/6/2012, Công an huyện Cẩm Giàng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý".

+ Bản án số 52/2012/HSST ngày 16/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 25 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2014).

+ Bản án số 41/2016/HSST ngày 10/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh B xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2017).

Tiền án: Bản án số 06/2022/HSST ngày 25/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 4 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2024).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/4/2025 đến ngày 28/4/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).

* Người làm chứng: Chị Bùi Thị Mỹ H; chị Nguyễn Thị H1; anh Phạm Văn Đ; chị Nguyễn Thị Hoa H2 (vắng mặt).

* Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị H4; ông Đỗ Danh C (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn B sử dụng ma tuý tổng hợp từ năm 2014. Tháng 3 năm 2025, B thuê phòng trọ số 8, tầng hai dãy nhà trọ của chị Nguyễn Thị H4, ở thôn Phú Xá, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng để ở cùng bạn gái là chị Nguyễn Thị Hoa H2, ở thôn Ngọ, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, sáng ngày 18/4/2025, B sử dụng tài khoản zalo "Shup Up"nhắn tin, gọi điện đến tài khoản zalo "Toni Do" của một người đàn ông giới thiệu tên là Hạnh (không rõ địa chỉ) hỏi mua 1.500.000đồng ma túy đá, Hạnh đồng ý bảo B đến khu vực huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giao nhận ma túy. Sau đó, B bắt xe ôm đến một ngõ nhỏ thuộc huyện Văn Lâm, gặp Hạnh và mua được 01 túi ma túy đá với số tiền 1.500.000đồng. B cất túi ma tuý vào trong túi áo khoác màu cam đang mặc rồi đi xe ôm về nhà.

Sáng ngày 22/4/2025, B mặc áo khoác màu cam (bên trong có túi ma túy) đi bộ đến phòng trọ (chị Hiền không có ở phòng trọ). B lấy ống hút, bật lửa ga màu đỏ, chai nước đục lỗ, coóng thủy tinh để sẵn tại phòng trọ rồi lắp thành bộ dụng cụ và lấy một phần ma túy đá cho vào coóng thủy tinh và châm lửa sử dụng. Trong khi sử dụng ma tuý, B sử dụng điện thoại di động OPPO A54 lắp sim số 0769870999 nhắn tin và gọi điện đến tài khoản zalo của Phạm Văn Đ ở thôn Quảng Cư, xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng (là bạn xã hội của B) rủ Điền đến phòng trọ chơi. Khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, thấy Điền đến nên B đã rủ Điền cùng sử dụng ma túy. B và Điền tự châm lửa sử dụng ma túy bằng hình thức hút đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày thì Điền đi về còn B ở phòng trọ ngủ. Đến tối cùng ngày, B rủ chị Nguyễn Thị H1 ở thôn Đồng Đăng, xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa B và chị Bùi Thị Mỹ H ở xóm Sắt, xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa B đến phòng trọ ăn cơm. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi B đang cùng chị Hợp và chị Hạnh ăn cơm thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương đến kiểm tra, thu giữ trong túi áo khoác màu cam của B treo trên tường 01 túi nilon màu trắng viền túi màu đỏ kích thước (6x10)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 bầu coóng thuỷ tinh màu trắng bên trong bám dính chất muội màu nâu; 01 ống hút màu cam, một đầu cắt vát; 01 bật lửa ga màu đỏ và điện thoại di động của B (chai nước và ống hút B đã vứt đi). Quá trình điều tra, B tự khai ra hành vi sử dụng ma tuý cùng Phạm Văn Đ vào sáng ngày 22/4/2025.

Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương tiến hành xét nghiệm mẫu nước tiểu bằng thanh thử BCA test kit tìm chất ma túy đối với Nguyễn Văn B, Phạm Văn Đ, Nguyễn Thị H1, Bùi Thị Mỹ H. Kết quả cho thấy Nguyễn Văn B, Phạm Văn Đ dương tính với ma túy, loại Methamphetamine; Chị Nguyễn Thị H1 và chị Bùi Thị Mỹ H âm tính với các loại ma túy.

Kết luận giám định số 213/KL - KTHS ngày 23/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Quá trình giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất rắn màu nâu bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh; trong chất rắn bám dính bên trong ống hút màu cam một đầu cắt vát. Chất rắn màu trắng bên trong túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,287gam.

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hinh̀ sự Công an tỉnh Hải Dương và khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật là đúng.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 06/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B từ 26 tháng đến 29 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"; từ 22 tháng đến 25 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung từ 48 tháng đến 54 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/4/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.

Tịch thu cho tiêu hủy: 1,188gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 coóng thủy tinh màu trắng; 01 ống hút màu cam một đầu được cắt vát; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt; sim số 0769.870.999. Kiến nghị Công ty Viễn thông Mobifone đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động vi phạm pháp luật theo quy định.

Tịch thu phát mại, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh dương.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng trong phiên tòa: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng; người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 20 phút đến 09 giờ 20 phút ngày 22/4/2025, tại phòng trọ của Nguyễn Văn B ở thôn Phú Xá, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, B đã có hành vi chuẩn bị ma túy Methamphetamine, địa điểm và công cụ để tổ chức cho Phạm Văn Đ ở thôn Quảng Cư, xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, B còn cất giấu 1,287gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Cẩm Giàng. Chất ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con người mà nó còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân mà bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo cất giấu trong phòng trọ của mình 1,287gam ma tuý loại Methamphetamine với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy "quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo trực tiếp là người chuẩn bị bộ sử dụng ma tuý, cung cấp ma tuý để Phạm Văn Đ sử dụng ma tuý tại phòng trọ của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án kết án nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện cho bản thân mà vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Tại bản án số 06/2022/HSST ngày 25/01/2022 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng xử phạt 4 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" bị cáo chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị phát hiện hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" bị cáo đã tự khai ra hành vi "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" với Phạm Văn Đ vào sáng ngày 22/4/2025 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự cân nhắc, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

.Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 1,188gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định. Đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bầu coóng thủy tinh, 01 ống hút, 01 bật lửa ga là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh dương lắp sim số 0769.870.999 là công cụ phương tiện mà bị cáo sử dụng liên hệ mua ma túy và liên lạc với Điền để đến phòng trọ của bị cáo chơi nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với sim điện thoại số 0769.870.999 của B sử dụng, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy và đề nghị Công ty Viễn thông Mobifone đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động vi phạm pháp luật.

. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên Hạnh bán ma tuý cho B ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. B không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, không có số điện thoại chỉ có tài khoản zalo của người bán ma túy là "Tonni Do". Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương đã có công văn trao đổi thông tin đến tập đoàn zalo. Tuy nhiên, tập đoàn zalo không có kết quả cụ thể về người sử dụng tài khoản zalo mang tên "Toni Do". Hơn nữa việc giao dịch mua bán ma túy giữa B và người bán ma túy thỏa thuận bằng việc đưa tiền mặt. Cơ quan CSĐT đã áp dụng hết các biện pháp, thu thập hết các nguồn chứng cứ nhưng đến nay không có căn cứ tiếp tục xác minh, làm rõ.

Việc bị cáo B cất giấu 1,287gam ma túy loại Methamphetamine vào tối ngày 22/4/2025 với mục đích để sử dụng cho bản thân thì Phạm Văn Đ, Bùi Thị Mỹ H, Nguyễn Thị H1 không biết nên không xem xét đồng phạm với B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Hành vi của Phạm Văn Đ sử dụng trái phép chất ma tuý cùng B tại phòng trọ của B thuộc thôn Phú Xá, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, Điền không tham gia bàn bạc, thoả thuận, thống nhất liên quan đến việc chuẩn bị công cụ, địa điểm chất ma tuý, Điền được mời sử dụng ma tuý không phải trả tiền (người được thụ hưởng). Do đó, Điền không phạm tội.

Đối với chai nước, ống hút mà B cho vào thùng rác mang đem đi đổ vào chiều ngày 22/4/2025. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hải Dương đã tiến hành ra thông báo truy tìm vật, rà soát vật chứng của vụ án để có căn cứ thu giữ và bảo quản vật chứng liên quan đến vụ án.

Bà Nguyễn Thị H4 là chủ nhà trọ cho B thuê nhà trọ và chị Nguyễn Thị Hoa H2 ở trọ cùng với B. Bà Hương và chị Hiền không biết việc B cất giấu ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất tại phòng trọ nên không có căn cứ xử lý.

Hành vi "Sử dụng trái phép chất ma tuý" của Phạm Văn Đ và Nguyễn Văn B, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn Đ và Nguyễn Văn B là đúng quy định pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 11 (mười một) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/4/2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 213/KL - KTHS ngày 25/04/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, bên trong có 1,188gam ma túy Methamphetamine còn nguyên niêm phong; 01 coóng thủy tinh màu trắng; 01 ống hút màu cam một đầu được cắt vát; 01 bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt; sim số 0769.870.999 và đề nghị Công ty Viễn thông Mobifone đang cung cấp dịch vụ thu hồi số thuê bao di động vi phạm pháp luật theo quy định.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 màu xanh dương.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng ngày 10/6/2025).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ