- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoàn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày: 06-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Ngọc The
2. Bà Phan Thị Trúc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên. o
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Đoàn Khắc T , sinh ngày 25/5/1999. Giới tính: Nam
Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đoàn Anh K , sinh năm 1975 và bà Trương Thị Bích T, sinh năm 1978. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: không. Tiền sự: ngày 08/11/2024 Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quyết định số 58/QĐ-XPHC. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2025 đến ngày 20/10/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (bị cáo có mặt).
* Người làm chứng: Nguyễn Văn C , sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 05/8/2025, T sử dụng điện thoại Iphone 8 có số thuê bao 0932733958 liên hệ mua một bịch ma tuý của một người phụ nữ tên My (không rõ nhân thân) với số tiền 1.000.000 đồng tại khu vực gần ngã ba Rạch Sỏi, tỉnh An Giang. Sau đó, T sử dụng một phần, phần còn lại cất giấu trong túi quần, rồi điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Honda, loại Super Cub 50, biển số 68LA-013.52 đi chơi tại chợ Tân Hiệp, An Giang. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe trên đoạn đường thuộc ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang để về nhà thì bị Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện bên trong túi quần phía sau bên trái mà T đang mặc có một bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu đỏ, kích thước khoảng 3cm x 3,8cm. Bên trong bịch có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất, nghi là ma túy. Công an xã Tân Hiệp đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật theo quy định và đưa Triệu về trụ sở để làm việc.
* Tại kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận: Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8856 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng ma túy.
* Cáo trạng số 05/CT-VKSKV3 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Đoàn Khắc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên xử bị cáo Đoàn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Khắc T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
* Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Văn Tuấn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, gồm có: Các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8123 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì. Đối với vật chứng này đến nay không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 màu đen, số máy MQ722LL/A, số sê ri C8RY7TQEJC6C, đã qua sử dụng. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda biển số 68LA-01352 do không liên quan đến vụ án nên đã trả cho chủ sở hữu.
Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình và hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra, Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 05/8/2025, bị cáo Đoàn Khắc T đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Kinh 6 thuộc ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang, thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang bị cáo T đang tàng trữ trái phép chất ma tuý trong túi quần phía sau bên trái. Ma tuý thu giữ có khối lượng 0,8856 gam, loại Methamphetamine, số ma tuý bị cáo Triệu mua của một người phụ nữ tên My (không rõ nhân thân) nhằm mục đích để sử dụng.
Theo kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận: Các hạt tinh thể không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8856 gam.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra cho thấy bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đặc biệt nguy hiểm, tàn phá sức khỏe của người sử dụng và làm suy giảm giống nòi, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Dù không nhằm mục đích vụ lợi, nhưng vì muốn được thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và hậu quả mua ma túy về tàng trữ sử dụng một cách trái pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu: ngày 08/11/2024 bị Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
6.1 Tịch thu tiêu hủy:
Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Văn Tuấn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, gồm có: Các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8123 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì; do vật chứng là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng.
6.2 Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 màu đen, số máy MQ722LL/A, số sê ri C8RY7TQEJC6C, đã qua sử dụng; do vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội.
6.3 Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh An Giang đã trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 68LA-01352, số loại Super Cub 50 màu xanh trắng cho chủ sở hữu ông Đoàn Anh K (cha bị cáo T) do không liên quan đến vụ án, là phù hợp.
[7 Đối với người tên My đã bán ma túy cho bị cáo T, chưa xác định được nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, nếu đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Khắc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2025 đến ngày 20/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Võ Văn Tuấn và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, gồm có: Các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8123 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì.
2.2 Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8 màu đen, số máy MQ722LL/A, số sê ri C8RY7TQEJC6C, đã qua sử dụng.
Các vật chứng trên Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - An Giang đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSKV3 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh An Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đoàn Khắc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 3 – An Giang; - Phòng THADS khu vực 3 – An Giang; - Công an tỉnh An Giang; - Phân trại tạm giam Giồng Riềng cơ sở 2; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |