- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị Ngọc Huyền và Kiều Quang Dũng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nông Thị Ngọc H được ly hôn anh Kiều Quang D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2025/HNGĐ- ST Ngày 30 tháng 12 năm 2025 V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà và ông Lê Hữu Vị .
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11-Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Nông Thị Ngọc H, sinh năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đông Trai, xã Đông Thọ, tỉnh Tuyên Quang.
2.Bị đơn: Anh Kiều Quang D, sinh năm 1993 (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Phú Thượng, xã Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 19/8/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nông Thị Ngọc H trình bày:
Chị kết hôn với anh Kiều Quang D có được tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 16/11/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Lập Thạch, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ). Sau khi cưới chị về làm dâu và ở chung cùng gia đình anh D. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong suy nghĩ và cách ứng xử, tháng 12/2021 vợ chồng cãi nhau chị H về nhà mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Kiều Quang D.
Về con chung: Vợ chồng không có, hiện nay chị H không có thai.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Kiều Quang D, Tòa án báo gọi nhiều lần nhưng anh D không đến Tòa án làm việc nên không tiến hành hòa giải được. Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/12/2025 anh Kiều Quang D trình bày: Về thời gian kết hôn quá trình vợ chồng chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng. Sau khi cưới được thời gian vợ chồng đưa nhau đi làm ăn tại tỉnh Tuyên Quang, cuối năm 2021 vợ chồng mâu thuẫn, anh về quê sinh sống, chị H vẫn ở tỉnh Tuyên Quang, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Đến nay chị H xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị Nông Thị Ngọc H.
Về con chung: Vợ chồng không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng về quyền và nghĩa vụ. Bị đơn không chấp hành đầy đủ về quyền và nghĩa vụ. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung không có; Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nông Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với anh Kiều Quang D, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Ngày 19/8/2025 chị Nông Thị Ngọc H có đơn xin ly hôn anh Kiều Quang D. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tố tụng: Anh D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Nông Thị Ngọc H và anh Kiều Văn D là tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tiến bộ. Về tình cảm: Sau khi kết hôn chị H, anh D chỉ có thời gian ngắn hòa thuận, hạnh phúc. Quá trình vợ chồng chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị H, anh D là do vợ chồng bất đồng quan điểm về lối sống và cách ứng xử, chị Huyền đã về nhà mẹ đẻ, anh D về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn anh D. Anh D cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị Huyền xin ly hôn là có căn cứ, vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nông Thị Ngọc H được ly hôn anh Kiều Quang D.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H, anh D không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nông Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho chị Nông Thị Ngọc H được ly hôn anh Kiều Quang D.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị H, anh D không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nông Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E số 0003380 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; - Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11- Phú Thọ; - Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Lập Thạch (để vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ, Văn phòng. HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Hà – Lê Hữu Vị Đức được Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý đăng ký kết hôn ngày 27/10/2021, sau ngày cưới chị Lan về làm dâu gia đình anh Đức, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xẩy ra va chạm, hiện nay không thấy chị Lan ở gia đình anh Đức. Anh Đức hiện nay vẫn sinh sống và làm việc tại thôn Tân Lập, xã Hợp Lý. Nay chị Lan xin ly hôn anh Đức đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Sinh Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Hợp Lý: Việc kết hôn giữa chị Lan và anh |