vanban.org

Bản án 49/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn với anh Lưu Văn S.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang). Về con chung: Giao cháu Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018 cho chị Nguyễn Thị L1 là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Lưu Văn S không phải cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án về ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn với anh Lưu Văn S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/HNGĐ-ST
Ngày 09/6/2025
Về việc: “Ly hôn, giao nuôi con chung
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Hồng Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Vượng và ông Nguyễn Sơn Hải.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Thế Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành L - Kiểm sát viên.

Ngày 09/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04/3/2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 12/5/2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 04/2025/TB-TA ngày 27/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lưu Văn S, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S kết hôn với nhau vào năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 29/01/2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống, làm việc tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 02 năm 2025 chị Nguyễn Thị L1 có đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn S.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị L1 trình bày: Nguyên nhân mâu thẫn là do trong cuộc sống hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, suy nghĩ không còn hợp nhau, không có tiếng nói chung, anh S ham chơi không chịu khó làm ăn lo toan kinh tế gia đình nên dẫn đến vợ chồng thường xuyễn xảy ra cãi vã, nói nhau.... mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc. Từ tháng 3 năm 2024 đến nay vợ chồng sống ly thân nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh S đang sống ly thân được 01 năm. Chị L1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Toà án nhân dân huyên Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn S.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị L1 xác định có 01 người con chung là Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018. Quá trình giải quyết chị L1 có quan điểm nhận là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Á, chị không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

Lời khai của cháu Lưu Thị Hồng Á có trong hồ sơ thể hiện nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị L1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Kết quả xác minh thể hiện: Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S đều có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Chị L1 và anh S kết hôn với nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang cùng với gia đình nhà anh Lưu Văn S. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ không còn hiểu nhau, không có tiếng nói chung, anh S ham chơi không chịu khó làm ăn nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, nói nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình nhiều lần hoà giải nhưng không thành.

Anh Lưu Văn S làm công nhân ở tỉnh Bắc Ninh, không có mặt tại địa phương thi thoảng về nhà khi được nghỉ lễ, tết và gia đình có việc. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần anh S vẫn không đến Toà án làm việc. Do vậy Toà án nhân dân huyện Sơn Dương chỉ tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ với nguyên đơn và không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn khi tham gia tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng đối với bị đơn anh Lưu Văn S không chấp hành nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S kết hôn vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Do vậy, căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX xử cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn với anh Lưu Văn S; giao cháu Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018 cho chị Nguyễn Thị L1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về tài sản chung, về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị L1 đều xác định không có, không đề nghị giải quyết nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị L1 đề nghị Toà án nhân dân huyện Sơn Dương giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn S và giao nuôi con chung khi ly hôn; không đề nghị giải quyết về tài sản, đất đai, công nợ chung. Do vậy, quan hệ pháp luật ở đây được xác định là “Ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập anh Lưu Văn S nhiều lần nhưng anh S không đến làm việc, đây được xác định thuộc trường hợp bị đơn cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lưu Văn S vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 29/01/2019 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường to tiếng cãi nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, tháng 02 năm 2025 chị Nguyễn Thị L1 có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn S.

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S có hạnh phúc thời gian đầu sau phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc nên xác định hôn nhân của chị L1 và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn với anh Lưu Văn S.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S có 01 con chung là Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018.

Xét thấy, cháu Lưu Thị Hồng Á là con chung của chị Nguyễn Thị L1 và anh Lưu Văn S nên anh chị đều cùng phải có nghĩa và trách nhiệm đối với cháu. Tuy nhiên, do anh S không có mặt ở địa phương, quá trình giải quyết chị L1 có quan điểm được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Á và không yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Lời khai của cháu Lưu Thị Hồng Á thể hiện nguyện vọng của cháu là được sống cùng với mẹ. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung và đảm bảo quyền lợi của các đương sự sau khi ly hôn, căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018 cho chị Nguyễn Thị L1 là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lưu Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

2.4. Về vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị L1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn với anh Lưu Văn S.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Lưu Thị Hồng Á, sinh ngày 15/02/2018 cho chị Nguyễn Thị L1 là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Lưu Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L1 và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000003133436, ngày 04/3/2025 của Công ty cổ phần T và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Toà án số: 000034, ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Nguyễn Thị L1 đã nộp đủ án phí của vụ án.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ