vanban.org

Bản án 49/2025/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/07/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lý D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Không chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của ông Lý D đối với ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D về việc tranh chấp diện tích đất 59.3m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, gồm: * Phần đất tranh chấp có diện tích 13.5m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "dân sự phúc thẩm"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lý D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2025/DS-PT
Ngày 24 - 04 - 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hùng

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Thuý Linh

Bà Giang Thị Cẩm Thuý

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2025 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 110/2024/DS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 33/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lý D, sinh năm 1970 (Có mặt).

Địa chỉ: Khóm 5, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý D: Bà Phan Ngọc T, sinh năm 1980. Địa chỉ liên hệ: Khóm 1, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Sơn Thanh T, sinh năm 1970 (Có mặt).

Bà Phạm Ngọc D, sinh năm 1977 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1970 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bà Trương Thị L, sinh năm 1946.

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện ủy quyền của bà Trương Thị L: Ông Ông Sơn Thanh T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Có mặt).

3. Bà Lâm Thị K (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

4. Ông Lâm Ngọc M (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

5. Bà Lâm Tuyết H (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

6. Bà Lâm Bích L (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

7. Bà Lâm Ngọc B (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

8. Bà Lâm Bích T (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

9. Bà Lâm Tuyết M (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

10. Anh Sơn Chí N, sinh năm 2003 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 4, Phường 1, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

11. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tuấn K - Chủ tịch

Người kháng cáo: Ông Lý D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên ông Lý D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị L trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp giữa ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D là của ông Lý S (ông nội ông Lý D, đã chết) cho con gái là bà Lý Thị E(đã chết), đến khoảng 1993 thì bà Lý Thị E chuyển nhượng phần đất diện tích 7.200m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cho ông Lý D, phần đất này ông D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện giấy chứng nhận đã bị thất lạc. Ông Lý D có 01 phần đất giáp ranh với ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D, phần đất này đã có bờ ranh với phần đất ông D khoảng ngang 3m, giáp với ao nuôi tôm công nghiệp của ông Lý D, còn phần đất tranh chấp thì nối liền với bờ ranh ao nuôi tôm công nghiệp của ông Lý D, tính bờ ranh ông Lý D chừa lại và phần đất tranh chấp là khoảng trên 5m.

Quá trình sử dụng đất đến khoảng năm 2012 thì ông T, bà D xây dựng nhà ở kiên cố lấn chiếm qua phần đất của ông Lý D, lúc đó ông D có nói với ông T nhưng ông T nói không có lấn chiếm qua phần đất của ông D đâu rồi cho qua, khi đó ông Lý D không có trình báo chính quyền địa phương, đến năm 2020 thì giữa hai bên mới xảy ra tranh chấp cho đến nay, diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế ngày 13/12/2022 là ngang 2,7m dài 22m, tổng diện tích là 59.3m².

Nay ông D, bà Liên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D giao trả phần đất lấn chiếm là 59.3m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Ngoài ra ông bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn ông Sơn Thanh T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Ngọc D trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp giữa ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D và ông Lý D là của ông T, bà D nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị L (vợ ông Lâm Chên, đã chết vào khoảng năm 1998) vào tháng 01/2003, diện tích chuyển nhượng đất là ngang 5m dài 31m, tổng diện tích là 155m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, đến ngày 13/09/2009 thì hộ ông T, bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 155m², thửa đất số 890, tờ bản đồ số 05, hiện phần đất này ông T, bà D đã xây dựng nhà ở kiên cố từ năm 2012 cho đến nay.

Đến năm 2013 ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D nhận chuyển nhượng 2 phần đất của bàvới tổng diện tích là 527m², ông T, bà D được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa số 203, tờ bản đồ số 17, diện tích 208,5m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, cấp cho hộ bà Phạm Ngọc D ngày 10/05/2013 và một phần đất ông T, bà D chuyển nhượng lại cho ông Sơn Thanh Tuấn (em ruột ông T) diện tích khoảng 279m², hiện gia đình ông Tuấn đang sử dụng. Phần đất này trước đây là bà Trần Mỹ L nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị L diện tích 682m², tại thửa số 353 vào khoảng năm 2008.

Quá trình sử dụng đất đến khoảng năm 2020 thì ông T, bà D phát sinh tranh chấp đất với ông Lý D cho đến nay, ông D cho rằng ông T, bà D xây dựng nhà lấn chiếm qua phần đất của ông Lý D diện tích ngang 2,7m dài 22m, tổng diện tích là 59.3m².

Nay ông T, bà D xác định ông bà xây dựng nhà ở, cở sở sắt – nhôm là trên phần đất của ông bà, không lấn chiếm qua phần đất của ông D, vì vậy ông bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông D, yêu cầu Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi của ông bà theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ông bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Từ những nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của ông Lý D đối với ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D về việc tranh chấp diện tích đất 59.3m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, gồm:

Phần đất tranh chấp có diện tích 13.5m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m;

Hướng Tây giáp đất bà Lý Thị H, có cạnh dài 2.7m;

Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 5m;

Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, có cạnh dài 5m.

Phần đất tranh chấp có diện tích 45.8m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

Hướng Đông giáp đất ông Lý D, có cạnh dài 2.7m;

Hướng Tây giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m;

Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 17m;

Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, ông Sơn Thanh Tuấn, có cạnh dài 17m.

Tại biên bản đo đạc phần đất tranh chấp của ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/12/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 13,5m² thuộc thửa đất số 890, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/09/2009 và diện tích đất tranh chấp có diện tích 45,8m², thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm Chên, cấp năm 1995.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu bày quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: từ khi tham gia tố tụng đến nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ thì không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền, tư cách tham gia tố tụng, trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm đã được cấp sơ thẩm nhận định và phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Xét kháng cáo của ông Lý D thể hiện:

Phần đất tranh chấp giữa ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D có diện tích là 59.3m², đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, gồm:

* Phần đất tranh chấp có diện tích 13.5m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

- Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m;

- Hướng Tây giáp đất bà Lý Thị H, có cạnh dài 2.7m;

- Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 5m;

- Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, có cạnh dài 5m.

* Phần đất tranh chấp có diện tích 45.8m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

- Hướng Đông giáp đất ông Lý D, có cạnh dài 2.7m;

- Hướng Tây giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m;

- Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 17m;

- Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, ông Sơn Thanh Tuấn, có cạnh dài 17m.

Trên phần đất có một phần nhà sau của ông Sơn Thanh T, hiện do ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D (bị đơn, vợ ông T), anh Sơn Chí Nghĩa (21 tuổi, con ông T), cháu Sơn Thiện Nhận (5 tuổi, con ông T) cùng sử dụng.

Tại biên bản đo đạc phần đất tranh chấp của ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/12/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 13,5m² thuộc thửa đất số 890, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/09/2009 và diện tích đất tranh chấp có diện tích 45,8m², thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm Chên, cấp năm 1995. (Bút lục 100)

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lý D cho rằng bị đơn ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D đã lấn chiếm đất cạnh hướng Nam của ông ngang 2.7m, dài khoảng 22m, diện tích là 59.3m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, theo ông D xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông Lý S (ông nội ông Lý D, đã chết) cho con gái là bà Lý Thị E(đã chết), đến khoảng 1993 thì bà Lý Thị Echuyển nhượng phần đất diện tích 7.200m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cho ông Lý D, phần đất này ông D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như ng hiện nay giấy chứng nhận đã bị thất lạc. Tại biên bản đo đạc phần đất tranh chấp của ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/12/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 13,5m² thuộc thửa đất số 890, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/09/2009 và diện tích đất tranh chấp có diện tích 45,8m², thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm Chên, cấp năm 1995 và tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2022 (bút lục số 93) thể hiện phần đất tranh chấp hướng Nam giáp bà Trương Thị L, có cạnh dài 22m, chứ không phải giáp ông Lý D và gia đình ông Lý D cũng xác định không có nhận chuyển nhượng phần đất nào của bà Trương Thị L, trong khi phần đất này có một diện tích 13,5m² đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà D có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ bà Trương Thị L, được bà Lan xác định tại biên bản ghi lời khai ngày 15/04/2024, bà Lan cũng không có yêu cầu hay ý kiến gì về phần đất tranh chấp, phần đất này ông T, bà D đã sử dụng, xây dựng nhà ở từ năm 2003 cho đến nay và một phần diện tích đất 45,8m² do ông Lâm Chên chồng bà Trương Thị L đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được bà Lan xác định tại biên bản ghi lời khai ngày 15/04/2024, bà Lan và các con cũng không có yêu cầu hay ý kiến gì về phần đất tranh chấp (Bút lục số 69), như vậy cho thấy rằng ông D là người khởi kiện nhưng ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp nên không được chấp nhận.

Từ nhưng chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lý D; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Những phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ông Lý D đã dự nộp 4.130.633 đồng, đã chi phí hết.

Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch ông Lý D phải nộp 300.000 đồng, ông D đã dự nộp 300.000 đồng ngày 09/11/2022 biên lai thu số 0009627, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, chuyển thu án phí.

Về án phí dân sự phúc thẩm ông Lý D phải nộp 300.000 đồng, ông D đã dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0010826 ngày 03/12/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lý D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của ông Lý D đối với ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D về việc tranh chấp diện tích đất 59.3m², phần đất tọa lạc Ấp R, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, gồm:

* Phần đất tranh chấp có diện tích 13.5m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

- Hướng Đông giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m.

- Hướng Tây giáp đất bà Lý Thị H, có cạnh dài 2.7m.

- Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 5m.

- Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, có cạnh dài 5m.

* Phần đất tranh chấp có diện tích 45.8m², qua đo đạc thực tế có vị trí, tứ cạnh như sau:

- Hướng Đông giáp đất ông Lý D, có cạnh dài 2.7m.

- Hướng Tây giáp phần đất tranh chấp, có cạnh dài 2.7m.

- Hướng Nam giáp đất bà Trương Thị L, có cạnh dài 17m.

- Hướng Bắc giáp đất ông Sơn Thanh T, ông Sơn Thanh Tuấn, có cạnh dài 17m.

Theo biên bản đo đạc phần đất tranh chấp của ông Lý D và ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/12/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác định phần đất tranh chấp có diện tích 13,5m² thuộc thửa đất số 890, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn Thanh T, bà Phạm Ngọc D ngày 13/09/2009 và diện tích đất tranh chấp có diện tích 45,8m², thuộc thửa đất số 353, tờ bản đồ số 05 (bản đồ 299) được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lâm Chên, cấp năm 1995.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ông Lý D đã dự nộp 4.130.633 đồng, đã chi phí hết.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch ông Lý D phải nộp 300.000 đồng, ông D đã dự nộp 300.000 đồng ngày 9/11/2022, lai thu số 0009627, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, chuyển thu án phí.

3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm ông Lý D phải nộp 300.000 đồng, ông D đã dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0010826 ngày 03/12/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, chuyển thu án phí phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ