- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Long - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn Anh phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Cần tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HSST Ngày: 15-03-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lương Hùng Việt
Bà Phạm Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại Hội trường xét xử A- Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 01/3/2024, đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thành L, sinh năm: 1999, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1964 và bà Trần Thị L, sinh năm 1964; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 anh, chị; Bị cáo có vợ là Đinh Thị Như Q, sinh năm 2003 và có 02 con, con lớn sinh năm 2020 và con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến nay (có mặt)
2/ Hồ Tuấn D, sinh năm: 1999, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông: Hồ Tuấn S (đã chết) và bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1978; Bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2023 đến nay (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1990; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 20 phút, ngày 21/9/2023 tại đoạn đường Cổng Trắng thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Thành L và Hồ Tuấn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 túi nylon chứa tinh thể màu trắng (L và D khai là ma túy) thu giữ tại vũng nước gần Cổng Trắng do đối tượng Nguyễn Thành L vứt xuống để phi tang. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thanh P, Hồ Tuấn D và Nguyễn Thành L đều là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng một tuần trước khi bị bắt, Nguyễn Thanh P đã liên lạc qua Zalo với một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch, P lưu tên trong điện thoại là “HL”) ở khu vực Bàu Cá, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, do không còn ma túy nên “HL” hẹn P khi có ma túy sẽ gọi lại, P đã chuyển cho đối tượng “HL” 200.000 đồng tiền mua ma túy đá qua thẻ game. Chiều ngày 21/9/2023, đối tượng “HL” gọi điện thoại cho P qua số 0372115323 của P, nói ma túy giấu trong vỏ gói bao thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN DEMI, để vào thùng rác nhỏ màu xanh trước cổng Công ty H, thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai và nói P ra lấy. P không có xe nên đã sử dụng tài khoản Messenger tên “Thanh P” nhắn tin qua tài khoản Messenger Hồ Tuấn D nói D chạy ra cổng công ty H lấy giùm ma túy mang về cho P, D đồng ý và gọi cho Nguyễn Thành L cùng đi. Khoảng 18 giờ 10 phút, Nguyễn Thành L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B7 – 217.05 chở theo D chạy đến cổng Công ty H, D đi lại thùng rác nhỏ màu xanh lấy từ trong thùng ra 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu CRAVEN DEMI, bên trong có 01 túi nylon chứa ma túy đá, rồi đi về nhà để đưa ma túy cho P. Trên đường đi, L nói D lấy ma túy ra cho L xem, D đưa ma túy cho L cầm, xem xong thì L giữ ma túy. Khi đi đến đoạn đường gần Cổng Trắng, cả hai dừng xe để qua đường thì Công an huyện T đến kiểm tra, L xuống xe vứt 01 túi ma túy xuống gần vũng nước thì bị Công an huyện T phát hiện, thu giữ. Cả hai khai nhận 01 túi nylon ma túy đá Công an thu giữ là của Nguyễn Thanh P, D và L đi lấy giùm. Công an huyện T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành L và Hồ Tuấn D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tang vật theo quy định. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp, bắt giữ khẩn cấp Nguyễn Thanh P theo quy định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh P, Hồ Tuấn D, Nguyễn Thành L đã khai nhận tòan bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Căn cứ kết luận giám định số 2131/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm P gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1998 gam, loại: Methamphetamine.
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 gói nilon chứa ma túy có khối lượng còn lại sau giám định 0,1713 gam, loại Methamphetamine. 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN DEMI; 01 ống thủy tinh, 02 ống hút bằng nhựa thu giữ trên người của Hồ Tuấn D, D khai nhận mục đích dùng để sử dụng ma túy đá cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô BKS 60B7 – 217.05, hiệu Yamaha, loại Sirius màu đen – trắng; qua tra cứu đứng tên sở hữu của chị Nguyễn Thị Mỹ Lệ (chị gái của bị cáo Nguyễn Thành L), sinh năm 1990, trú tại ấp H, xã H, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, chị Lệ không biết L sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, xe có giấy tờ hợp lệ. 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen (đã qua sử dụng) là của Nguyễn Thành L, qua điều tra xác minh, không liên quan đến nội dung vụ án. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus (đã qua sử dụng) của Hồ Tuấn D, D khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại trên nhắn tin với Nguyễn Thanh P để lấy ma túy giúp P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, loại bàn phím số, gắn sim số 0372115323 (đã qua sử dụng) của Nguyễn Thanh P, P khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại trên liên lạc với đối tượng để mua ma túy; 01 máy tính laptop hiệu ASUS, màu đen của Nguyễn Thanh P, P khai nhận đã sử dụng để nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Hồ Tuấn D nhờ D đi lấy ma túy cho P, là tang vật vụ án, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
* Bản cáo trạng số 17/CT.VKS-TN ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Hồ Tuấn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: + Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Hồ Tuấn D mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Buộc các bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo L, D xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt vì các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vị, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 20, ngày 21/9/2023, tại đoạn đường Cổng Trắng thuộc ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành L và Hồ Tuấn D đang có hành vi tàng trữ 0,1998 gam ma túy, loại: Methamphetamine thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thành L và Hồ Tuấn D đã phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) ..., MDMA ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Do đó, cáo trạng số 17/CT.VKS-TN ngày 15/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Hồ Tuấn D về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho các bị cáo.
Về tính chất, mức độ hành vi: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn biết ma túy là loại độc dược gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng do các bị cáo là người còn trẻ tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên các bị cáo phạm tội không nghĩ đến hậu quả. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng la mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV, … Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về nhân thân của bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
Về các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự.
Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội để các bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
Về biện pháp Tư pháp:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên xử tịch thu, sung công số tiền và đồ vật là:
- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN DEMI; 01 ống thủy tinh, 02 ống hút bằng nhựa; 0,1713 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, loại bàn phím số, gắn sim số 0372115323; 01 máy tính laptop hiệu ASUS, màu đen.
Các vấn đề khác:
Đối với bị can Nguyễn Thanh P, bị bệnh chết ngày 19 tháng 10 năm 2023 nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định đình chỉ điều tra bị can số 08/QĐ-ĐKTMT ngày 01/11/2023.
Đối với đối tượng ở khu vực Bàu Cá, xã Đ, huyện T đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh P, hiện chưa xác định được. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thông báo cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom để phối hợp điều tra làm rõ và sẽ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Hồ Tuấn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Tuấn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu CRAVEN DEMI; 01 ống thủy tinh, 02 ống hút bằng nhựa; 0,1713 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, loại bàn phím số, gắn sim số 0372115323; 01 máy tính laptop hiệu ASUS, màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2024 giữa công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T).
*Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện T; - CCTHAHS huyện T; - CCTHADS huyện T; - Cơ quan CSĐT Công an huyện T; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 08/2022/HSST Ngày: 17/11/2022 Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lam Xuân Thanh - Kiểm sát viên T, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST- HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HS ngày 01/11/2022, đối với bị cáo: Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông: Vũ Anh Hào; sinh năm: 1967 và bà Nguyễn Thị Kim Dung, sinh năm: 1968; Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh em; Bị cáo có vợ Phạm Thị Ánh Nga, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2014. Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2022 đến nay (có mặt) *Người làm chứng: -Anh Phạm D Khánh, sinh năm: 1978 Địa chỉ: ấp Nam Sơn, xã Quang Trung, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt, còn lại vắng mặt) án được tóm tắt như sau: phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện T phát hiện và lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1991 trú tại ấp Phúc Nhạc 1, xã Gia Tân 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có 01 túi ni lon chứa tinh thể màu trắng. (Bút lục số 01 - 08) sử dụng, ngày 28/6/2022 Vũ Tuấn Anh sử dụng điện thoại di động số sim 0326339464 liên lạc với 01 đối tượng tên thường gọi là Chó (bản thân Tuấn Anh không biết rõ lai lịch, nơi cư trú cụ thể) ở Định Quán để mua ma tuý vời số tiền 450.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý Vũ Tuấn Anh cất dấu và sử dụng dần. Đến chiều ngày 30/6/2022, Vũ Tuấn Anh mang theo số ma tuý còn lại cất giấu trong vỏ bao thuốc lá mang theo đi đến quán cà phê Tây Đô, thuộc khu vực ấp Nam Sơn, xã Quang Trung để gặp người bạn tên Cò Khá (Không xác định được lai lịch), khi tới quán do không có dụng cụ sử dụng ma tuý nên Tuấn Anh cất dấu vỏ bao thuốc lá có ma tuý bên trong ở trên hàng rào của quán cà phê Tây Đô được xây bằng gạch ống loại 04 lỗ rồi vào chòi ngồi chơi với Cò khá, một lúc sau Tuấn Anh ra về và đến đến lấy vỏ bao thuốc lá Jet bên trong có ma tuý thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang vật chứng là 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có 01 tùi nilon có chứa ma tuý (Bút lục số 78-87) Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đồng Nai xác định mẫu tinh thể màu trắng được niêm P gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,1002 gam loại Methamphetamine. (Bút lục số 31-33) dân huyện T, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Tuấn Anh về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử: + Áp dụng khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Tuấn Anh từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (tháng) tù; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. giám định, không được phép sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ. để mua ma tuý, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công. có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vị, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. vi của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 30 phút, ngày 30/6/2022, tại quán cà phê Tây Đô, thuộc ấp Nam Sơn, xã Quang Trung, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vũ Tuấn Anh có hành vi tàng trữ trái phép 0,1002 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn biết ma túy là loại độc dược gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng do bị cáo là người còn trẻ tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên bị cáo phạm tội không nghĩ đến hậu quả. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng la mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV, … Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. [4] Về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: tiền án, tiền sự. tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; Bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. thời gian để bị cáo tu dưỡng, trở thành công dân sống có ích cho xã hội. [6] Về biện pháp Tư pháp: đề nghị Tòa án tuyên xử tịch thu, sung công số tiền và đồ vật là: giám định, không được phép sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet không có giá trị sử dụng. (Bút lục số 81). Tuấn Anh sử dụng để mua ma tuý, liên quan đến hành vi phạm tội. (Bút lục số 42- 43;120-123). [7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận. Vì các lẽ trên: luật hình sự: tù tính từ ngày 30/6/2022. Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự: có giá trị sử dụng. cục thi hành án dân sự huyện T). Quốc Hội. thẩm. tuyên án. Nơi nhân: -TAND tỉnh Đồng Nai -VKSND huyện T -Công an huyện T -CCTHADS huyện T -Bị cáo, người làm chứng -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Châu Ngọc Hà CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T- TỈNH ĐỒNG NAI Ông Nguyễn Văn Lộc Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngày 17 tháng 11 năm 2022 tại Hội trường xét xử A- Tòa án nhân dân huyện -Họ và tên: Vũ Tuấn Anh, sinh năm: 1991, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp Phúc NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ Vào lúc 17 giờ 30 phút, ngày 30/6/2022, Công an xã Quang Trung, huyện T Quá trình điều tra xác định Vũ Tuấn Anh là người nghiện ma tuý, để có ma tuý Căn cứ Bản kết luận giám định số 1419/KL-KTHS ngày 07/7/2022 của Phòng *Bản cáo trạng số 74/CT.VKS-TN ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị *Vật chứng của vụ án: 0,0694 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của Vũ Tuấn Anh sử dụng *Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, [2] Về tội và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Tuấn Anh thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội [3] Về tính chất, mức độ hành vi: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách [4.1] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Vũ Tuấn Anh có nhân thân tốt, chưa có [4.2] Về các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không. [4.3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Quá trình điều [5] Về quyết định hình phạt: Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Cần tịch thu tiêu hủy: 0,0694 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau - Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của Vũ [8] Xét quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp QUYẾT ĐỊNH -Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ Tuyên bố bị cáo Vũ Tuấn Anh phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” Xử phạt: Bị cáo Vũ Tuấn Anh 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn *Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47- Bộ luật hình sự; - Tịch thu tiêu hủy: 0,0694 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, không được phép sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet không - Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh của Vũ Tuấn Anh sử dụng để mua ma tuý, liên quan đến hành vi phạm tội. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2022 của Chi *Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Lê Châu Ngọc Hà |