- Tranh chấp gì? án hình sự — "50. Bản án Lê Thăng L xử trực tuyến - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 18 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí Thị trấn B, huyện Yên Định, Thanh Hóa
2. Bà Phạm Thị Cung.
Nghề nghiệp: Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thăng L, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2004 (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 25 ngày) tại xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1980 và bà: Ngô Thị N, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chung sống cùng với chị Vi Thị N, sinh năm 2003, có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/11/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Định.
* Tại điểm cầu trung tâm gồm có:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn N, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T 1, xã T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Hoàng A, sinh năm 2004 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Lê Văn D, sinh năm 2005 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
3. Anh Ngô Ngọc Thiện N, sinh năm 2006 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu A, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
4. Anh Nguyễn Trung H, sinh năm 2006 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
* Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Mai Hoàng Doanh, Cán bộ Công an huyện Yên Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 01/10/2022, do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên Lê Văn D (sinh năm 2005, ở thôn T, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa), Ngô Ngọc Thiện N (sinh năm 2006, ở Khu A, Thị trấn B, huyện Yên Định); Nguyễn Trung H (sinh năm 2006, ở thôn T, xã Đ, huyện Yên Định); Võ Minh Tài (sinh năm 2005, ở thôn Thung Thượng, xã Đ, huyện Yên Định) và Cao Hoàng Thái (sinh năm 2005, ở thôn Tân Ngữ 1, xã Định L, huyện Yên Định) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 36C2-085.21 giá trị 15.500.000đ của Trịnh Văn Đức, sinh ngày 13/10/2007, ở thôn Vệ Thôn, xã Định Hưng, huyện Yên Định. Sau khi lấy được xe, cả nhóm đến thuê phòng 504 tại nhà nghỉ Đức Thành ở Thôn Phố Kiểu, xã Yên Trường, huyện Yên Định. Tại đây, Dự đề nghị mang cầm cố xe để lấy ma túy sử dụng thì được cả nhóm đồng ý. Dự sau đó đã gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger để liên lạc với Ngô Văn N, sinh năm 1995, ở thôn T, xã T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa hỏi về việc muốn đổi xe lấy ma túy sử dụng thì Ngọc nói không có nhà và bảo Dự liên lạc với Lê Thăng L.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Dự gọi qua ứng dụng Messenger cho L trao đổi về việc cầm cố xe mô tô lấy ma túy sử dụng thì L đồng ý. Sau đó, L nhờ Nguyễn Hoàng Anh (sinh năm 2004, ở thôn T, xã Đ, huyện Yên Định) cùng đi đến xã Yên Trường, huyện Yên Định để lấy xe máy với L. Khi L chở Hoàng Anh đến khu vực Trạm bơm Nam Sông Mã ở xã Yên Trường, huyện Yên Định thì gặp Dự và Hưng đang đi xe máy ngược chiều. Sau đó, Dự đưa xe máy cho Hoàng Anh mang xe về nhà trọ của L, ở khu phố Ngọc Sơn, Thị trấn B, huyện Yên Định còn L chở Dự và Hưng đến quán game anh Tuyên ở Khu A, Thị trấn B, huyện Yên Định đợi L mang ma túy đến.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L thuê xe taxi đi đến khu vực gần UBND xã T, huyện Thiệu Hóa gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đi xe mô tô màu đen không có biển kiểm soát đang đứng ven đường chỉ cho L đến lấy ma túy tại ống gạch dưới gốc cây thông rồi bỏ đi. L xuống xe, đi bộ đến nơi cất giấu, lấy được 01 túi nilon bên trong đựng 7 viên ma túy tổng hợp (L khai là ma túy tổng hợp dạng “kẹo”) và 02 túi nilon bên trong đựng ma túy loại Ketamine (L khai là 02 chỉ “ke”). Khi lấy được ma túy, L bọc ma túy vào tờ giấy ăn, bỏ vào bao thuốc lá Thăng L rồi lên xe taxi đi đến đoạn mương nước bên hông quán ăn đêm Công Tú ở khu 3, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa giao số ma túy trên cho Dự. Nhận được ma túy, Dự mang ma túy đến phòng nghỉ số 504 nhà nghỉ Đức Thành để cùng với Hưng, Tài, Nghĩa, Thái sử dụng (BL số 96-126).
Sau khi lấy xe và giao ma túy cho Dự, Lê Thăng L mang xe về sử dụng xe trong thời gian 01 tháng rồi đưa xe cho Ngọc. Ngày 03/3/2023, sau khi biết xe liên quan đến vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Ngọc đã giao nộp chiếc xe trên cho cơ quan điều tra.
Do ma túy đã được các đối tượng sử dụng hết nên không tiến hành thu giữ để giám định loại ma túy và khối lượng ma túy được.
Xác minh về tài sản, thu nhập: Lê Thăng L hiện ở cùng gia đình, không có tài sản riêng có giá trị.
Về vật chứng vụ án: Đối với ma túy L mang bán cho Dự đã được sử dụng hết nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ và giám định được.
Đối với chiếc điện thoại L sử dụng để liên lạc bán ma túy, L đã làm mất nên không thu giữ được.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave anpha màu trắng, biển kiểm soát 36C2-085.21 mà Dự dùng để cầm cố lấy ma túy sử dụng, đã được cơ quan điều tra xử lý trong vụ án khác.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSYĐ ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố Lê Thăng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Thăng L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thăng L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/11/2023; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh:
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Thăng L đã hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 23 giờ ngày 01/10/2022, tại đoạn mương nước bên hông quán ăn đêm Công Tú ở khu 3, Thị trấn B, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, Lê Thăng L đã có hành vi bán ma túy cho Lê Văn D, bằng cách trao đổi với Dự 01 chiếc xe mô tô Honda Wave anpha màu trắng, biển kiểm soát 36C2-085.21 để lấy 07 viên ma túy tổng hợp dạng “kẹo” và 02 chỉ ma túy loại Ketamine.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lê Thăng L bán trái phép 07 viên ma túy tổng hợp dạng “kẹo” và 02 chỉ ma túy loại Ketamine cho Lê Văn D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hậu quả của việc bị cáo Lê Thăng L bán chất ma túy cho những người khác đã ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi phạm tội bị cáo khi chưa đủ 18 tuổi nên được xem xét áp dụng quy định của người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo.
Do vậy, căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý. Nhưng bị cáo phạm tội có tính chất nghiêm trọng, việc bị cáo bán ma túy cho người khác sử dụng gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Ngô Văn N, quá trình điều tra, Ngọc không thừa nhận việc liên lạc bán ma túy cho Lê Văn D và cử L đi lấy xe và bán ma túy cho Dự như L và Dự đã khai. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36C2-085.21 mà Ngọc giao nộp cho cơ quan điều tra là do L vay của Ngọc số tiền 10.000.000đ nên muốn đưa xe làm tin. Mặc khác, không xác định được người đàn ông đã chuyển ma túy cho L là ai nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự với Ngọc. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.
Đối với người lái xe taxi chở L đi giao nhận ma túy, cơ quan điều tra đã xác minh theo lời khai của L nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của người đó nên không có cơ sở để xem xét.
Đối với Lê Hoàng A là người đi cùng Lê Thăng L đi nhận xe máy của Lê Văn D nhưng Lê Hoàng A không biết mục đích của L và Dự là giao dịch mua bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Lê Hoàng A là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Văn D, Nguyễn Trung H, Cao Hoàng Thái, Võ Minh Tài và Ngô Ngọc Thiện N, do sự việc diễn ra lâu, cơ quan điều tra không thu giữ được tang vật liên quan và không có kết quả test chất ma túy của các đối tượng nên không có căn cứ để xử lý các đối tượng về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Còn hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36C2-085.21 của các đối tượng này đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Định.
Về xử lý vật chứng:
Đối với ma túy L mang bán cho Dự đã được sử dụng hết nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ và giám định được.
Đối với chiếc điện thoại Lê Thăng L sử dụng để liên lạc bán ma túy, L đã làm mất nên không thu giữ được nên không có cơ sở xem xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave anpha màu trắng, biển kiểm soát 36C2-085.21 mà Dự dùng để cầm cố lấy ma túy sử dụng, đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thăng L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Về mức hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lê Thăng L 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thăng L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Chi cục THADS Yên Định; - Bị cáo, người liên quan; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Lưu: hồ sơ, VT. Lê Minh Chiểu Phạm Thị Cung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoa |