- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đình V - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự và cách ly; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 17-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quang Hùng và bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Đình V, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1990, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ V hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ V Đoan (đã chết) và bà Nguyễn Bích H, sinh năm 1964; có vợ là Lường Thị K, sinh năm 1994 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2023 đến ngày 02/10/2023, tạm giam từ ngày 02/10/2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 10 phút, ngày 23 tháng 9 năm 2023 tại bản Cản, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, Công an xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo bắt quả tang Đỗ Đình V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng, 01 gói nilon màu xanh, bên trong các gói đều chứa chất màu trắng dạng cục, bột nghi ma túy (loại Heroine); 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 03 (viên) nén màu hồng, nghi ma túy tổng hợp. Tạm giữ 01 cân điện tử màu đen có nắp đậy, bên mặt nắp có in dòng chữ “POCKET SCALE”, bên dưới mặt nắp có dòng chữ DT290A, bên trong có 03 cục pin tiểu nhãn hiệu con thỏ; 02 lưỡi dao lam bằng kim loại và số tiền 200.000đồng.
Ngày 12/9/2023 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định:
- Mẫu 1: Chất màu trắng dạng cục và bột có trong 01 gói nilon màu hồng, 01 gói nilon màu xanh thu giữ của bị cáo có khối lượng 2,48 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
- Mẫu 2: 03 (ba) viên nén màu hồng trên bề mặt có chữ “WY” thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng 0,29 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1439/KL-KTHS ngày 01/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột thu giữ của bị cáo gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
- Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Đình V khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 23/9/2023 tại dốc bản Cản, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo mua được của một người đàn ông khoảng 40, không biết họ, tên, địa chỉ 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 01 gói nilon màu hồng là Heroine, 01 gói bằng nilon màu trắng là 03 viên ma túy tổng hợp với giá 1.000.000đồng; việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến tham gia cùng. Mua được ma túy bị cáo cầm trong lòng bàn tay trái đi về nhà và cất giấu dưới gối giường ngủ. Đến 15 giờ cùng ngày bị cáo dùng dao lam cắt lấy một ít gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu xanh bán cho một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và thu về 200.000đồng; số Heroine còn lại bị cáo gói lại cất vào dưới gối giường ngủ như ban đầu. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo đem số ma túy ở dưới gối đổ ra giường, trên đệm nằm của bị cáo (gồm 03 viên nén màu hồng, 01 gói Heroine), bị cáo lấy gói Heroine rồi dùng dao lam cắt chia một ít Heroine ra cho vào một mảnh nilon màu xanh để chuẩn bị sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì tổ công tác Công an xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSTG ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Đỗ Đình V về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Đình V và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đỗ Đình V từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,25 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine còn lại, 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 02 (hai) con dao lam bằng kim loại, 01 cân điện tử màu đen và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Trả lại cho bị cáo tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đồng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 19 giờ 10 phút ngày 23/9/2023, tại nhà bị cáo Đỗ Đình V ở bản Cản, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Đỗ Đình V bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 2,48 (hai phẩy hai bốn mươi tám) gam Heroine và 0,29 (không phẩy hai mươi chín) gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán lẻ thu lợi. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; biên bản khám xét; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Đình V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của bị cáo là 2,77 gam (2,48 gam heroine và 0,29 gam Methamphetamine), vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ vào tính chất chất mức độ hành vi, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án: - Đối với 2,25 gam heroine và 0,19 gam Methamphetamine (vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 02 (hai) con dao lam bằng kim loại; 01 cân điện tử màu đen có nắp đậy, trên mặt nắp có in dòng chữ “POCKET SCALE”, bên dưới mặt nắp có dòng chữ DT290A, bên trong có 03 cục pin tiểu nhãn hiệu con thỏ và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đồng là tiền bị cáo khai đã bán 01 gói Heroine cho một người đàn không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ vào hồi 15 giờ ngày 23/9/2023 mà có. Tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo số tiền 200.000đồng.
Án phí: Bị cáo là người bị kết án. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông không rõ họ, tên, địa chỉ đã mua ma túy của bị cáo vào ngày 23/9/2023. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ điều tra xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Đình V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2023.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 2,25 (hai phẩy hai mươi lăm) gam Heroine và 0,19 (không phẩy mười chín) gam Methamphetamine.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh nilon màu xanh, 01 (một) mảnh nilon màu trắng và 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 02 con dao lam bằng kim loại; 01 cân điện tử màu đen có nắp đậy, trên mặt nắp có in dòng chữ “POCKET SCALE”, bên dưới mặt nắp có dòng chữ DT290A, bên trong có 03 cục pin tiểu nhãn hiệu con thỏ.
- Trả lại cho bị cáo tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đồng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/12/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đỗ Đình V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Đỗ Đình V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/01/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |