- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự D và Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Phạt Lữ Văn D 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/5/2024.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/HS-ST Ngày 29 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Huế và bà Trần Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà: Ông Lương Hoài Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, Điểm cầu Trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An. Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lữ Văn D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 02 năm 1997, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Văn C; con bà: Lang Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/6/2022 bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc với thời gian 21 tháng, chấp hành xong ngày 07/11/2023; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024. Có mặt.
1. Lô Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 11 năm 1995 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm Q, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Xuân Đ; con bà: Lương Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lộc Văn T, sinh năm 1995; trú tại xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/5/2024 Lữ Văn D rủ Lô Văn Đ góp tiền đi lên xã Tri Lễ, huyện Quế Phong mua ma tuý về sử dụng thì Đ đồng ý. Đ đưa cho D 300.000 đồng; D cầm tiền rồi cả hai đi lên xã Tri Lễ, huyện Quế Phong; lên đến nơi thì D mua một gói Heroine và 01 gói Methamphetamine với giá 900.000 đồng; trong đó tiền của D 600.000 đồng và tiền của Đ 300.000 đồng; sau khi mua được ma tuý thì D và Đ đi về đến địa phận xã Châu Thôn, huyện Quế thì bị bắt quả tang. Thu 01 gói chất bột màu trắng; 01 gói bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Hon da loại Wave Alpha.
Kết luận giám định số 594/KL- KTHS( Đ2-MT) ngày 04/6/2024 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn Đ và Lữ Văn D gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Lô Văn Đ và Lữ Văn D có khối lượng là 05g (Năm gam). Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn Đ và Lữ Văn D gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn Đ và Lữ Văn D có tổng khối lượng là 01 g (Một gam).
Tại phiên tòa các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 30/5/2024 tại xã Châu Thôn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; Lữ Văn D và Lô Văn Đ đang cất giấu trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang. Thu 05 gam Heroine và 01 gam Methamphetamine. Mục đích của các bị cáo cất giấu ma tuý là để sử dụng.
Cáo trạng số 48/CT-VKS- QP ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với người bán trái phép chất ma tuý cho các bị cáo, do không xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt: Bị cáo Lữ Văn D từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù; xử phạt Lô Văn Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 30/5/2024, tại xã Châu Thôn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ đang cất giấu trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang; 05 gam Heroine và 01 gam Methamphetamine. Tổng cả 2 chất ma tuý là 06 gam. Các bị cáo tàng trữ ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Đối với bị cáo Lữ Văn D là người khởi xướng, người góp tiền nhiều hơn, trực tiếp mua và trực tiếp cầm toàn bộ gói ma tuý khi bị bắt, nên phải chịu trách nhiệm Hình sự với toàn bộ số ma tuý bị thu giữ; bị cáo có một tiền sự: Cụ thể: Năm 2022 bị Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc; do đó cần xét xử bị cáo Lữ Văn D với mức án cao hơn bị cáo Lô Văn Đ. Đối với bị cáo Lô Văn Đ có hành vi góp tiền và cùng đi mua ma tuý với bị cáo Lữ Văn D, nên cũng phải chịu toàn bộ số ma tuý bị thu giữ. Vì vậy cần xét xử nghiêm cho tương xứng với vai trò đồng phạm của từng bị cáo và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên sau khi phạm tội các bị cáo khai báo thành khẩn; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt bị cáo Lữ Văn D từ 6 năm 6 tháng đến 7 năm tù; xử phạt bị cáo Lô Văn Đ từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao so với số lượng ma tuý bị thu giữ và nhân thân của các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 05 gam Heroine, cơ quan cảnh sát điều tra đã lấy đi giám định chất ma tuý 0,2 gam; còn lại 4,8 gam; đối với 01 gam Methamphetamine, cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,19 gam; còn lại 0,81 gam. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Phạt Lữ Văn D 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/5/2024.
Phạt Lô Văn Đ 05 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/5/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 4,8 (Bốn phẩy tám) gam Heroine và 0,81 (Không phẩy tám mươi mốt) gam Methamphetamine, các mảnh bao ni lông màu gói ma tuý và các vỏ phong bì thu giữ vật chứng ban đầu thu giữ của Lữ Văn D và Lô Văn Đ. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 23/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Lữ Văn D và Lô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quế Phong. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an huyện Quế Phong. - Chi cục THA DS huyện Quế Phong. - Trại tạm giam; trại giam. - Sở tư pháp; UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |