- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H đối với bà Nguyễn Thị N về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2024/DS-ST Ngày: 21-3-2024 V/v Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Nguyện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Tài.
2. Ông Nguyễn Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 500/2023/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971; địa chỉ: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1973; địa chỉ: khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Ngày 03-7-2022, bà N, ông L có vay của chị số tiền 31.000.000 đồng, bà N, ông L đã trả được 3.500.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 27.500.000 đồng. Nay chị khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L, bà N có trách nhiệm liên đới trả cho chị số tiền 27.500.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi. Chị H yêu cầu ông L, bà N trả nợ một lần, không chấp nhận cho trả dần.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà thừa nhận có nợ chị Hằng số tiền 27.500.000 đồng như chị H trình bày. Chữ viết, chữ ký trong giấy nhận nợ là của bà. Bà vay tiền để chi tiêu trong gia đình. Việc bà còn nợ H là sự thật, nên bà đồng ý trả cho chị Hằng số tiền 27.500.000 đồng. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn, bà xin được trả dần, mỗi tháng trả 300.000 đồng, trả đến khi hết nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Minh L trình bày: Ông là chồng của bà N. Ông thống nhất lời khai của bà N. Ông đồng ý liên đới trả cho cho chị Hằng số tiền 27.500.000 đồng. Vì bà N vay tiền để sử dụng cho chi tiêu trong gia đình. Nhưng do hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng ông xin được trả dần, mỗi tháng trả 300.000 đồng, trả đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà N, ông L có trách nhiệm trả cho chị Hằng số tiền 27.500.000 đồng, ghi nhận chị H không yêu cầu tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh L, bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm trả số tiền vay 27.500.000 đồng. Ông L, bà N có địa chỉ ở khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
2
Về sự vắng mặt của đương sự: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Các đương sự đều thống nhất: Ngày 03-7-2022, bà N, ông L có vay của chị Hằng số tiền 31.000.000 đồng, bà N, ông L đã trả được 3.500.000 đồng, hiện còn nợ lại số tiền 27.500.000 đồng. Nên việc bà N, ông L còn nợ chị Hằng số tiền 27.500.000 đồng là sự thật. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu bà N, ông L có trách nhiệm trả số tiền nợ 27.500.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Chị H không yêu cầu tính lãi nên ghi nhận.
Về yêu cầu xin trả dần của bị đơn: Ông L, bà N trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên xin được trả dần cho chị H, mỗi tháng trả 300.000 đồng, trả đến khi hết nợ nhưng chị H không đồng ý và yêu cầu này của ông L, bà N không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông L, bà N có trách nhiệm trả cho chị Hằng số tiền 27.500.000 (hai mươi bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Nguyễn Minh L, bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.375.000 (một triệu, ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thúy H không phải chịu tiền án phí, hoàn trả cho chị Hằng số tiền 687.500 (sáu trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013421 ngày 05-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 147, 244, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
3
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H đối với bà Nguyễn Thị N về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Minh L có trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền 27.500.000 (hai mươi bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1. Chị Nguyễn Thị Thúy H không phải chịu tiền án phí, hoàn trả cho chị Hằng số tiền 687.500 (sáu trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013421 ngày 05-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Ông Nguyễn Minh L, bà Nguyễn Thị N phải chịu 1.375.000 (một triệu, ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - CC.THADS huyện Gò Dầu; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. 4 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Nguyện |