vanban.org

Bản án 49/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”. Xử phạt bị cáo Đặng Thị V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 6 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Đặng Thị V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HSST
Ngày: 26 - 10 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Nguyễn Xuân Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 45/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXX-ST, ngày 11 tháng 10 năm 2023, đối với:

Bị cáo Đặng Thị V, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1991 tại N, NL, Nghệ An; nơi thường trú: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện tại: Ngõ B, đường T, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ h c v n: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Thanh D và bà Nguyễn Thị H; có chồng Nguyễn Ng c T, có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 6 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hoàng N, sinh năm 1995; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố Đ tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 13/6/2023, tại sảnh nhà nghỉ T, địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Đặng Thị V, sinh năm 1991, HKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, tạm trú tại phường Đ, TP Đ, tỉnh Quảng Bình đến thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy. Trong lúc đang chuẩn bị đặt phòng thì bị Đội CSĐTTP về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Quảng Ninh phối hợp với Công an xã L kiểm tra, phát hiện trong bàn tay phải của Đặng Thị V cầm 01 (một) túi nilon màu đen, bên trong có chứa 05 (năm) viên nén màu xám không rõ hình dạng và 01 (một) túi nilon trong suốt chứa nhiều tinh thể màu trắng. Tổ công tác Công an huyện Quảng Ninh đã lập biên bản phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” đối với Đặng Thị V và thu giữ toàn bộ tang vật nói trên. Quá trình bị bắt, V khai nhận toàn bộ số tang vật bị thu giữ là ma túy dạng “Ke” và ma túy dạng “Kẹo” V mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại đường B thuộc phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình với giá 7.000.000 đồng và mang về c t để sử dụng, trong lúc đang tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 05 (năm) viên nén màu xám, không rõ hình dạng, là ch t ma túy loại MDMA, khối lượng 1,884g (Một phẩy tám trăm tám mươi bốn gam). Ch t tinh thể màu trắng là ch t ma túy loại Ketamine, khối lượng 4,843 gam (bốn phẩy tám trăm bốn mươi ba gam); MDMA nằm trong danh mục các ch t ma túy, số thứ tự 11, Danh mục IB; Ketamine nằm trong danh mục các ch t ma túy, số thứ tự 40, Danh mục III Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25-8-2022 của Chính phủ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 13/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, đã qua sử dụng.

Tại Bản cáo trạng số 49/CT-VKS, ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Đặng Thị V về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Đặng Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Đặng Thị V đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma túy loại MDMA, khối lượng 1,884g và ch t ma túy loại Ketamine, khối lượng 4,843 gam. Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đặng Thị V mức án từ 12 đến 18 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi số 637/KL-KTHS có chữ ký những người tham gia niêm phong.

Bị cáo Đặng Thị V nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về nuôi dạy con, hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo thống nh t, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 13/6/2023, Đặng Thị V tàng trữ ở trong bàn tay phải 05 (năm) viên nén màu xám là ch t ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,884g và một gói chứa nhiều tinh thể màu trắng là ch t ma túy loại Ketamine, khối lượng 4,843 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi của Đặng Thị V thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; tổng tỷ lệ phần trăm của hai ch t ma túy trên là 61,8% (dưới 100%) so với khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm tr ng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các ch t ma túy, gây m t trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại ch t gây nghiện có nguy cơ gây hại lớn cho xã hội, Nhà nước c m sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình c t gi u để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính ch t vụ án, tính ch t nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đ u tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đang nuôi con nhỏ nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Đặng Thị V khai nhận đã mua số ma tuý từ một người đàn ông không quen biết (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại đường B thuộc phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình với giá 7.000.000 đồng và mang về c t để sử dụng, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa có kết quả, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng ch t ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định đã được niêm phong trong phong bì dán kín là vật c m tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, đã qua sử dụng thu giữ từ Đặng Thị V là tài sản của anh Trần Hoàng N, không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu anh Trần Hoàng N là đúng với quy đinh tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên HĐXX miễn xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Thị V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Thị V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13 tháng 6 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) viên ma túy loại MDMA khối lượng 1,884gam, sau khi giám định hoàn trả 1,723 gam và 01 (một) túi nilon bên trong chứa 4,843gam ma túy loại Ketamine, sau khi giám định hoàn trả 4,665gam. Toàn bộ số ma túy, vỏ bao gói sau khi giám định hoàn trả 01 (một) phong bì thư dán kín, trên ghi số 637/KL-KTHS có chữ ký những người tham gia niêm phong có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 06 tháng 10 năm 2023.

3. Án phí sơ thẩm: Bị cáo Đặng Thị V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ