- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Hồ Văn Đăng L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 49/2023/HSST Ngày 07/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI – TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Long
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Phạm Xuân Thành
+ Ông Hà Văn Châu
- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Quốc Trí – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải - tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Thoa – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST – HS ngày 22/11/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn Đăng L, sinh năm 1993, tại Ninh Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn K, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa: 10/12; Họ tên cha: Hồ Văn B, sinh năm 1969. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1967. Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không; Tiền án: không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/8/2023. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 08/8/2023, Hồ Văn Đăng L dùng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 của mình bên trong có sim số 0819.030.127 gọi cho người tên T không rõ nhân thân, lý lịch ở Đồng Nai hỏi mua ma túy với số tiền 1.500.000 đồng thì T đồng ý. Cả hai thỏa thuận L chuyển khoản tiền cho T qua tài khoản game, Thuộc gửi ma túy cho L theo đường xe khách. Khoảng 22 giờ, ngày 10/8/2023, L điều khiển xe môtô biển số 85C1 – 535.35 đến khu vực vòng xoay ngã 5 P, thành phố P T để chờ và lấy hộp giấy từ người lạ trên xe khách L không nhớ biển số. L mở hộp giấy lấy tép nylon chứa ma túy giấu bên trong mũ đội đầu, vứt hộp giấy đi rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, L về đến cổng thôn M, xã T, huyện N thì gặp tổ tuần tra Công an huyện N. Thấy L có nhiều biểu hiện nghi vấn nên Tổ tuần tra yêu cầu L dừng xe lại, đã phát hiện và thu giữ 01 tép nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu S Galaxy A 10 và xe môtô biển số 85C1 – 535.35. Quá trình điều tra, Hồ Văn Đăng L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại bản giám định số 181/KL – KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng K công an tỉnh N kết luận:
Chất kết tinh màu trắng bên trong 01 tép nylon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,8000 gam. H lại đối tượng sau giám định có khối lượng 0,6249 gam.
Đối với người tên T – người bán ma túy cho L, xe khách và người giao hộp giấy cho L, Cơ quan điều tra chưa xác định nên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng:
01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 bên trong có sim số 0819.030.127 và 01 xe môtô biển số 85C1 – 535.35 là của Hồ Văn Đăng L. Đây là phương tiện phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bên trong chứa 0,6249 gam ma túy Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định là tang vật của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT – VKS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và vật chứng đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Xét đã đủ chứng cứ để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 11/8/2023, tổ tuần tra Công an huyện N bắt quả tang bị cáo Hồ Văn Đăng L tàng trữ trái phép 0,8000 gam ma túy, loại Methamphetamine trong mũ đội trên đầu với mục đích để sử dụng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo đủ khả năng để nhận thức về tác hại của ma túy, hiểu rõ hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho cá nhân mà vẫn cố ý thực hiện. Hiện nay tệ nạn ma túy ở nước ta nói chung, ở địa bàn huyện N nói riêng đã đến mức báo động. Ma túy thật sự trở thành hiểm họa đe dọa đến sức khỏe, cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, gây nhức nhối cho toàn xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên khi lượng hình cũng cần xem xét cho các bị cáo.
Về vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 bên trong có sim số 0819.030.127 và 01 xe môtô biển số 85C1 – 535.35 là của Hồ Văn Đăng L.
-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bên trong chứa 0,6249 gam ma túy Methamphetamine của phòng K cùng chữ ký và họ tên của Lê Ngọc T1, Nguyễn Minh H1, Trần Huy H2, Bùi Lâm B1 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn Đăng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điềm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
3. Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn Đăng L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
4. Xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 bên trong có sim số 0819.030.127 và 01 xe môtô biển số 85C1 – 535.35 là của Hồ Văn Đăng L.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được dán kín và niêm phong, bên trong chứa 0,6249 gam ma túy Methamphetamine của phòng K cùng chữ ký và họ tên của Lê Ngọc T1, Nguyễn Minh H1, Trần Huy H2, Bùi Lâm B1 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (bằng chữ: hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xử công khai, có mặt bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - Công an huyện Ninh Hải; - Bị cáo; - Chi cục THADS, THA phạt tù; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thanh Long |