vanban.org

Bản án 49/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,42 gam Heroine (đã trừ giám định). Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS - RC màu vàng đen, biển kiểm soát 27B1-458.56, số máy G3T6E049700, số khung RLCUE1710GY037080 (kèo theo chìa khóa) cho chị Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm: 1978; trú tại: Bản S, x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 49/2023/HSST
Ngày: 18/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Điện.

2. Ông Nguyễn Duy Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Na Son, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn Đ (tên gọi khác: không), sinh năm: 1978 tại huyện M, tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: không học; con ông Lường Văn B, sinh năm: 1954 và bà Lường Thị K, sinh năm: 1954; vợ: Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm 1978 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: ngày 26/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 16 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 19/5/2021 chấp hành xong về địa phương đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2022 đến ngày 20/12/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm: 1978; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Người phiên dịch cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Quàng Văn K, sinh năm: 1987; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 11/12/2022, Lường Văn Đ một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B1- 458.56 đi từ nhà lên bản P, xã P, huyện Đi, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đầu bản P, Đ gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 70 tuổi qua trao đổi Lường Văn Đ mua được của người đàn ông đó 02 cục Heroine với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine Lường Văn Đ đã bẻ một ít sử dụng, số còn lại Đ dùng mảnh nilon màu trắng gói 01 cục to, dùng mảnh nilon màu xanh gói 01 cục nhỏ lại rồi cầm trên tay trái điều khiển xe máy quay về, khi đi đến đầu bản S, xã N thì bị công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ của Lường Văn Đ gồm một gói nilon màu trắng và một gói nilon màu xanh chứa chất bột màu trắng, nghi là Heroine và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS - RC màu vàng đen, biển kiểm soát 27B1-458.56, số máy G3T6E049700, số khung RLCUE1710GY037080 (kèo theo chìa khóa).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 11/12/2022 và Kết luận giám định số 23/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột trắng thu của Lường Văn Đ có khối lượng 0,54 gam, mẫu trích 0,12 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSĐBĐ ngày 08/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lường Văn Đ về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lường Văn Đ về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 0,42 gam Heroine còn lại sau giám định. Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS - RC màu vàng đen, biển kiểm soát 27B1-458.56, số máy G3T6E049700, số khung RLCUE1710GY037080 (kèo theo chìa khóa) cho chị Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm: 1978; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quàng Thị B đều có lời khai thể hiện chiếc xe biển kiểm soát 27B1-458.56 chị mua lại của anh Lường Văn H ở bản K, xã Ẳ, huyện M vào đầu năm 2021 với giá 6.200.000 đồng. Tài sản riêng của chị mua thời gian anh Lường Văn Đ chồng chị đi chấp hành án phạt tù. Vào ngày 11/12/2022 anh Đ sử dụng xe đi mua ma túy sử dụng chị không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe cho chị sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Lường Văn Đ bị truy tố thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy, ngày 11/12/2022 bị cáo đã đi tìm mua được một gói Heroine, bị cáo đã sử dụng một ít số còn lại cất giấu trong người và đang trên đường đi về nhà thì bị công an bắt quả tang, khối lượng gói Heroine là 0,54 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/12/2022, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hành vi tàng trữ 0,54 gam Heroine của bị cáo Lường Văn Đ nhằm mục đích sử dụng là hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

“c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Bị cáo Lường Văn Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ sử dụng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo sinh ra và lớn lên tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, không được đi học nên nhận thức pháp luật có hạn chế; Bị cáo là chồng, là cha của 03 con nhỏ nhưng không tu dưỡng bản thân mà nghiện ma túy do đua đòi bè bạn làm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi đã gây ra.

Xét tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 23/2020/HSST ngày 26/5/2020 bị cáo bị xét xử 16 tháng tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 19/5/2021 bị cáo mới chấp hành xong trở về địa phương. Ngày 11/12/2022 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội nên chưa được xóa án tích nên bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, gia đình thuộc diện hộ nghèo, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đề xuất.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án:

Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,54 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,12 gam không hoàn lại, còn 0,42 gam đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS - RC màu vàng đen, biển kiểm soát 27B1-458.56, số máy G3T6E049700, số khung RLCUE1710GY037080, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ đây là tài sản riêng của chị Quàng Thị B, việc bị cáo mang xe đi mua ma túy chị B không biết do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại chiếc xe máy nêu trên cho chị Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm: 1978; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo. Trong quá trình điều tra do chưa có thông tin cụ thể nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Đ (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lường Văn Đ 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 11/12/2022).

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,42 gam Heroine (đã trừ giám định).

- Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, SIRIUS - RC màu vàng đen, biển kiểm soát 27B1-458.56, số máy G3T6E049700, số khung RLCUE1710GY037080 (kèo theo chìa khóa) cho chị Quàng Thị B (tên gọi khác: Quàng Thị B1), sinh năm: 1978; trú tại: Bản S, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 09/3/2023 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 18/4/2023.

Cỡ chữ