vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 03/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Kim Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Kim Hữu T 07 năm 06 tháng ( Bảy năm sáu tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2022. Đối với vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 5,418g Methamphetamine, sau giám định, đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa niêm phong theo quy định, hiện đang được tạm g…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Kim Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 49 /2023/HS-ST.
Ngày 03/01/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHố T, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Tiếp

Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56 /2022/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022. theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Kim Hữu T ( tên gọi khác T Pháp), sinh năm 1977 ; ĐKNKTT và chỗ ở; SN 56 T, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghÒ nghiÖp: LĐTD; tr×nh ®é v¨n ho¸ 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim Hữu S (đã chết) và bà Nghiêm Thị Đ, vợ Lê Thị T (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2003; con nhỏ sinh năm 2011, tiÒn ¸n, tiền sự không, nhân thân: Ngày 14/10/1999 bị Tòa án nhân quận T, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 17/11/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 17/01/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 21/02/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo bị tạm giữ ngày 24/8/2022, chuyển tạm giam ngày 02/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kim Hữu T không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định mua bán ma tuý kiếm lời. Chiều ngày 20/8/2022, T một mình đi đến khu vực nhà văn hoá Đ1, phường Đ, thành phố T gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, Trung không biết tên và địa chỉ của người này, chỉ biết tên gọi là C. Tại đây, T hỏi mua được 55 viên ma tuý hồng phiến, trong đó có 53 viên màu hồng và 02 viên màu xanh với số tiền 3.300.000đ. Sau đó, T mang về phòng 405 nhà nghỉ Bình A ở 255 Q, phường Đ, thành phố T cất giấu để có khách mua thì bán với giá 70.000đ/01 viên.

Trưa ngày 24/8/2022, khi T và Nguyễn Thị H sinh năm 1998 trú tại thôn Hương T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hoá đang ở phòng 405 nhà nghỉ Bình A thì T lấy 50 viên hồng phiến cho vào túi nilong màu tím than, cuộn ngoài bằng băng dính đen rồi cất giấu trong người; 05 viên hồng phiến còn lại T bỏ vào túi nilong màu trắng để ở đầu giường ngủ và nói với H là hồng phiến, thích thì cứ sử dụng rồi đi ra ngoài. T một mình đi đến bãi đất trống trước nhà nghỉ Hải Y thuộc phường Q, thành phố T cất giấu túi ma tuý vào ống thuỷ tinh trên vỉa hè để ai hỏi sẽ bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang (BL 01-02, 35-43, 72-83). Tiến hành kiểm tra phòng 405 nhà nghỉ Bình A, Công an phát hiện, thu giữ thêm 05 viên nén hình tròn, trong đó có 03 viên màu hồng và 02 viên màu xanh trước đó T đã để lại.

Kết luận giám định số 2939/KL-KTHS ngày 30/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 55 viên nén hình tròn trong đó 02 viên màu xanh và 53 viên màu hồng (thu giữ của T) có tổng khối lượng 5,418g là ma tuý loại Methamphetamine (BL 31).

Quá trình điều tra, Kim Hữu T khai nhận 05 viên hồng phiến T để lại cho H, nếu H không sử dụng T sẽ lấy để bán. Nguyễn Thị H khai nhận không biết việc T cất giấu ma tuý để bán, không biết hồng phiến là ma tuý và cũng không sử dụng ma tuý. Kết quả xét nghiệm nhanh đối với H, âm tính với các loại ma tuý (BL 38, 43, 82).

Vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy (Methamphetamine) còn lại sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã kết luận.

Cáo trạng số: 16/CTr-VKS ngày 01/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố bị cáo Kim Hữu T về tội: “Mua bán phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của BLHS.

Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như quyết định của bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, tịch thu số ma túy sau giám định, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất yên tâm cải tạo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ để định tội đối với bị cáo: Lời khai tại phiên tòa và lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu được và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 14h00’ ngày 24/8/2022, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực phường Q, thành phố T, phát hiện bắt quả tang Kim Hữu T đang cất giấu 4,939g Methamphetamine để bán. Tiến hành khám xét chỗ ở của T tại phòng 405 nhà nghỉ Bình A, phường Đ, thành phố T, Công an thu giữ thêm 0,479 g Methamphetamine. Tổng khối lượng ma tuý T tàng trữ để bán là 5,418g Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của BLHS, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị H là người ở cùng với Kim Hữu T tại phòng 405 nhà nghỉ Bình A, không biết việc T cất giấu ma tuý để bán và để lại một ít cho H sử dụng, H không sử dụng. Quá trình xét nghiệm, H âm tính với các loại ma tuý. Đối với người đàn ông tên C đã bán ma tuý cho Kim Hữu T, do T khai không biết họ tên thật và địa chỉ của C, Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý những người này là đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống, kinh tế và trong quan hệ xã hội, nó có ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, đặc biệt ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Người nghiện ma túy không những băng hoại về đạo đức, mà còn tổn hại đến sức khỏe và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, trong vụ án này bị cáo biết được tác hại nhưng vì lợi nhuận nên đã phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo: Bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm về ma túy và trộm cắp tài sản. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS, có 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Căn cứ nhân thân, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách lý bị cáo khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục sớm trở thành người lương thiện.

Đối với ma túy bị cáo mang đi bán do chưa bán được, vì vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Khối lượng 5,418g Methamphetamine, thu được của bị cáo, sau khi đã giám định được niêm phong hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T là vật được Nhà nước cấm lưu hành cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

[6]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ; điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để áp dụng đối với bị cáo.

- Tuyên bố: Bị cáo Kim Hữu T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo: Kim Hữu T 07 năm 06 tháng ( Bảy năm sáu tháng) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2022.

- Đối với vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 5,418g Methamphetamine, sau giám định, đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa niêm phong theo quy định, hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận vật chứng số 32/2023/THA ngày 05/12/2022.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Kim Hữu T phải chịu 200.000 đồng.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ