- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày 31 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Hiền
2. Ông Nguyễn Kim Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T - Sinh ngày 28/8/1995 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Tổ 02, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T - Sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H - Sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/3/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16/3/2023, Trần Văn Tâm và em trai ruô ̣t l à Trần Huy Tùng - Sinh năm 1997, cùng trú tại tổ 02, phườ ng Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai ngồi uống nướ c ta ̣i sân bóng phườ ng Pom Hán
, thuô ̣c tổ 07, phườ ng Pom Hán , thành phố Lào Cai , tỉnh Lào Cai thi Trần Văn Tâm nảy sinh ý
̀ đi ̣nh tim mua ma tuý về để sử du ̣ng . Trần Văn Tâm nói vớ i Trần Huy Tùng là Trần
̀ Văn Tâm đi ra ngoài này có viê ̣c và bảo Trần Huy Tùng ngồi đợi. Sau đó, Trần Văn Tâm đi bô ̣ mô ̣t minh từ sân bóng đến trướ c cử a nhà Pha ̣m Đinh Đa ̣i - Sinh năm
̀
̀ 1974, trú tại tổ 09, phườ ng Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai ở trong ngõ nhỏ đối diện với sân bóng, đườ ng Hoàng Quốc Viê ̣t , phườ ng Pom Hán , thành phố Lào Cai. Khi đến nơi , Trần Văn Tâm đứ ng trướ c cử a nhà và go ̣i Phạm Đình Đại qua ô cửa cổng. Phạm Đình Đại ở trong nhà đi ra , qua ô cử a nhỏ , Trần Văn Tâm đưa cho Đa ̣i 01 tờ tiền mê ̣nh giá 100.000 đồng. Đa ̣i cầm tiền và đưa la ̣i cho Trần Văn Tâm 01 gói ma tuý. Sau khi mua được ma tuý , Trần Văn Tâm cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ ra khu vực Trần Huy Tùng đang ngồi uống nướ c và bảo Trần Huy Tùng đưa về nhà . Vào hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi Trần Huy Tùng điều khiển x e mô tô BKS 24B3 -164.55 chở Trần Văn Tâm đến khu vực đườ ng Đă ̣ng Thái Thân , thuô ̣c tổ 02, phườ ng Xuân Tăng , thành phố Lào Cai và dừ ng đỗ xe ven đườ ng thi bi ̣ tổ công tác Đô ̣i Cảnh sát điều tra tô ̣i
̀
phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang . Trướ c sự có mă ̣t của ngườ i chứ ng kiến , Trần Văn Tâm khai nhâ ̣n đang cất giấu ma tuý trên ngườ i và tự giác lấy từ trong túi quần phia trướ c , bên phải đang mă ̣c ra 01 gói giấy
́
giao nô ̣p cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành mở kiểm tra gói giấy , bên trong có chứ a chất bô ̣t khô, màu trắng, vón cục. Trần Văn Tâm khai nhâ ̣n đây là gói ma tuý Heroine của Trần Văn Tâm vừ a mua được , cất giấu vớ i mu ̣c đich để sử du ̣ng cho
́ bản thân, Trần Huy Tùng không biết và không tham gia cùng viê ̣c Trần Văn Tâm cất giấu ma tuý . Tổ công tác lâ ̣p biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang và niêm phong vâ ̣t chứ ng theo quy đi ̣nh.
Tại biên bản mở niêm phong , xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 17/03/2023 xác định: Bên trong bi niêm
̀ phong có 01 gói được gói ngoài bằng giấy , bên trong gói chứ a bô ̣t khô , màu trắng, vón cục. Tổng khối lượng chất bột khô, màu trắng, vón cục là 0,21 (không phẩy hai mươi mốt ) gam, trích mẫu 0,08 (không phẩy không tám ) gam để tiến hành giám đi ̣nh, còn lại 0,13 (không phẩy mườ i ba) gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.
Tại bản kết luận giám định về ma tuý số 86/GĐMT ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận : 0,21 (không phẩy hai mươi mốt) gam chất bô ̣t khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là lo ại chất ma tuý Heroine (Hêrôin).
Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 09/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Trần Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội và pháp luật, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vào ngày 16/3/2023 Trần Văn T đã có hành vi mua ma túy về mục đích để sử dụng cho bản thân và bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Theo kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, số ma túy thu giữ được của bị cáo Trần Văn T có tổng khối lượng là 0,21 gam Hêrôin. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có việc làm ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Số ma tuý Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng là 0,21 gam Hêrôin, sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,13 gam Hêrôin đã được tái niêm phong cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với Phạm Đình Đại là người Trần Văn T khai đã bán ma tuý cho Trần Văn T, quá trình điều tra Phạm Đình Đại không thừa nhận đã bán ma tuý cho Trần Văn T, ngoài lời khai của Trần Văn T không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.
Đối với Trần Huy Tùng là người cùng đi uống nước với Trần Văn T và chở Trần Văn T về nhà, Trần Huy Tùng không biết và không tham gia cùng Trần Văn T mua và cất giấu ma tuý, do đó không xử lý đối với Trần Huy Tùng là phù hợp.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam chất ma tuý Hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai).
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; VKSND tỉnh; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSNDTPLC; CATPLC; - Chi cục THADSTPLC; - Cơ quan THAHSCATP; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |