- Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ trọng c - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH Bản án số 49/2023/HS-ST Ngày 16 / 02 /2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DAN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thanh Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Nhân
Ông Nguyễn Văn Huề
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXS - HS ngày 01 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Trọng C, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1984 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 10, khu 2, phường Hồng G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Vũ Trọng Gi và bà Vũ Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 17/8/2021, Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/12/2022 và tạm giam từ ngày 22/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Đê V, bà Nguyễn Thị N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
C sử dụng ma túy từ năm 2020. Khoảng 15 giờ 00 ngày 13/12/2022, C đi ra khu vực cây xăng Cao Thắng, thành phố H tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, C gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng, được bọc bên trong túi nilon. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi C đi đến khu vực đoạn đường Công ty cổ phần than Núi Béo thuộ tổ 1, khu 7, phường Hà T, thành phố H thì bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh phát hiện và bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu trong túi quần phía trước bên phải của C 01 (một) túi nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. C khai nhận đó là ma túy đá của C cất giấu mục đích để sử dụng.
Kết luận giám định số 1992/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,095 gam. Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H: 0,04gam.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT – VKSHL ngày 16/01/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung tóm tắt vụ án đã nêu và thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Người chứng kiến bà Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Đê V vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, đối tượng, vật chứng bị thu giữ (từ bút lục 60 đến bút lục 69).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2022.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong có mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát;
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh và hình phạt:
2.1 Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 13/12/2022, tại khu vực thuộc tổ 1, khu 7, phường Hà T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, C có hành vi tàng trữ trái phép 0,095 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo tàng trữ khối lượng ma túy 0,095 gam (dưới mức ma túy tối thiểu 01 gam quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự), tuy nhiên bị cáo đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất, chưa được xóa án tích mà lại vi phạm nên có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội.
2.2 Về hình phạt:
-Về hình phạt chính:
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, làm mất trật tự trị an địa phương và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Năm 2021 bị cáo bị kết án 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” , sau khi chấp hành xong hình phạt tù được trở về hòa nhập với cộng đồng, một thời gian sau bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó, thể hiện sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bất chấp, coi thường pháp luật của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ phân tích, đánh giá trên thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như để tăng C phòng ngừa tội phạm chung.
-Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo mua ma túy để sử dụng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- 0,04gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1992/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là loại chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về người có hành vi liên quan: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo không làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trọng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Trọng C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13/12/2022.
2.Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 0,04gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1992/KL-KTHS ngày 18/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo: - VKSND,CA Tp. H; - Chi cục THADS Tp. H; - Cơ quan THAHS CA Tp. H; - Trại tạm giam CA tỉnh QN; - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh. - Lưu hồ sơ, VP./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Thúy |