- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen H "Mua ban trai phep chat ma tuy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn H4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày: 15 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Long
Ông Nguyễn Xuân Hiệp
Ông Lê Văn Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh An - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2023/QĐXXST-HS ngày 28/8/2023 đối với:
Bị cáo: Nguyễn H4; sinh ngày 21/02/2004, tại: Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Phụ xe; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà: Bùi Thị H1; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 17/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị H2 – Văn phòng L; địa chỉ: B H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; nơi cư trú: 1755 Quốc lộ B, Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1979; nơi cư trú: 1755 Quốc lộ B, Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Anh Nguyễn H3, sinh năm 2002; nơi cư trú: 1755 Quốc lộ B, Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1960; nơi cư trú: Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Ông Phạm Hậu N, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn H4 là đối tượng sử dụng ma túy, vào khoảng đầu tháng 02/2023 thông qua một người bạn tên N1 (không rõ nhân thân, lai lịch, chỗ ở cụ thể), H4 sử dụng tài khoản Zalo của H4 tên “Nguyễn H4” để làm quen và kết bạn với tài khoản Zalo tên “Anh C”, người này giới thiệu cho H4 biết tên là C có bán ma túy với giá rẻ, nếu cần mua thì cứ liên hệ với “Cu” qua Z. Sau đó H4 nảy sinh ý định mua ma túy của “Cu” để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Thực hiện ý định trên, vào khoảng đầu tháng 02/2023, H4 liên lạc qua tài khoản Zalo của “Cu” để mua 50 viên ma túy với giá 170.000 đồng/01 viên, tổng giá tiền là 8.500.000 đồng, “Cu” hẹn địa điểm mua bán ma túy tại khu vực Bệnh viện T3, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Như thỏa thuận, H4 đến điểm hẹn nêu trên, nhưng “Cu” không gặp trực tiếp H4 mà giao ma túy cho H4 thông qua một người nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch), H4 đưa 8.500.000 đồng tiền mặt cho người nhân viên giao hàng này rồi nhận 50 viên ma túy màu hồng. Sau khi mua được ma túy, H4 mang về thành phố B và đã bán được 48 viên ma túy cho một số bạn bè xã hội (không rõ nhân thân,lai lịch, chỗ ở cụ thể) tại thành phố B với giá tiền là 300.000đ/viên, H4 bán được tổng số tiền là 14.400.000 đồng, số tiền này H4 đã sử dụng hết để tiêu xài cá nhân, ngoài ra Hào có lấy từ số ma túy này sử dụng cho bản thân hết khoảng ½ viên và còn dư lại khoảng 1,5 viên Hào cất giấu dưới gối trong phòng ngủ của H4.
Tiếp đến, vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/02/2023 Hào tiếp tục liên hệ qua Z hỏi đặt mua của “Cu” khoảng 150 gam ma túy và 200 viên ma túy, do “Cu” không có đủ 200 viên, nên chỉ bán cho H4 khoảng 190 viên với tổng số tiền là 124.000.000 đồng, giống như lần mua ma túy trước, “Cu” tiếp tục hẹn H4 đến khu vực Bệnh viện T3, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để “Cu” giao ma túy và nhận tiền. Khoảng 03 giờ cùng ngày H4 đón xe khách đến điểm hẹn, khoảng 30 phút sau, “Cu” đến và đưa cho H4 ma túy mà H4 đã đặt mua và cho H4 một cân tiểu ly điện tử, H4 đưa 124.000.000 đồng tiền mặt cho “Cu” và cất số ma tuý này cùng cân tiểu ly điện tử vào túi xách da màu nâu của H4 rồi đón xe về lại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, khi đang trên đường về nhà, có một người tên V (không rõ nhân thân, lai lịch, chỗ ở cụ thể) sử dụng Zalo tên “Chị V” gọi và nhắn tin cho H4 để hỏi mua ma túy nhưng lúc đó H4 đang ngủ nên chưa trả lời. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H4 mang số ma túy vừa mua được của “Cu” về đến chỗ ở của H4 tại nhà số A, Quốc lộ B, thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cất giấu, sau đó H4 gọi lại cho V thì V nói muốn mua khoảng 10 gam ma túy và 10 viên ma túy, H4 đồng ý và báo tổng giá tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), V đồng ý và V hẹn địa điểm mua bán ma túy tại khu vực Bệnh viện I.
Sau đó, H4 lấy số ma túy vừa mua được ra phân chia, cụ thể: H4 lấy 01 gói nylon chứa khoảng 50gam ma túy rồi dùng cân tiểu ly phân chia thành 17 gói ma túy, còn lại một ít ma tuý H4 vẫn để lại trong gói nylon lúc đầu. Đối với gói nylon chứa ma túy dạng viên, H4 phân chia gồm 01 gói nylon chứa 10 viên và 01 gói nylon chứa 50 viên, còn lại khoảng 130 viên Hào vẫn để trong gói nylon ban đầu. Sau khi phân chia được số ma túy nêu trên H4 lấy 01 gói nylon chứa khoảng 10 gam, 01 gói nylon gốc lúc đầu chứa khoảng 50 gam ma túy; 01 gói nylon chứa 131 viên ma túy (gói gốc lúc đầu) và gói nylon chứa 1,5 viên ma túy còn dư lại của lần mua trước cho vào trong túi xách da màu nâu và để vào trong chiếc va ly nhựa, màu xám ở trong phòng ngủ của H4. Tiếp đến H4 lấy 01 gói nylon chứa 10 viên ma tuý và 01 gói nylon chứa khoảng 10 gam ma túy vào túi quần jean soọc màu xám phía trước bên trái mà H4 đang mặc để mang đi bán cho V. Đối với 16 gói ma túy và 01 gói ny lon chứa 50 viên ma túy còn lại H4 cất giấu toàn bộ vào trong hộc bệ tỳ tay trong xe ô tô biển số 49A-51137 với mục đích nếu ai mua thì có sẵn ma túy để bán.
Đến khoảng 17 giờ 00 chiều ngày 17/02/2023, H4 điều khiển xe ô tô biển số 49A-511.37 để đi bán ma tuý cho V như đã thỏa thuận. Khi đến khu vực đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thì bị Công an thành phố B yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an đã phát hiện bắt quả tang H4 đang cất giấu trong túi quần jean sọoc phía trước bên trái của H4 đang mặc 01 gói nylon chứa 10 viên ma tuý và 01 gói nylon chứa khoảng 10 gam ma tuý mà H4 đang mang đi bán cho V nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Tiếp đó, H4 đã lấy ra từ trong hộc bệ tỳ tay trong xe ô tô biển số: 49A-511.37 giao nộp cho Cơ quan Công an 01 túi nylon màu trắng bên trong chứa 16 gói ma tuý và 01 gói nylon chứa 50 viên ma tuý. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H4 và thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy nêu trên của H4. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của H4 cơ quan Công an còn thu giữ 01 va ly nhựa, màu xám bên trong có chứa: 01 gói nylon màu trắng chứa 131 viên ma tuý dạng viên nén màu xám; 02 gói nylon màu trắng chứa ma tuý ; 01 gói nylon màu trắng có chứa 01 viên ma tuý kẹo màu hồng và 01 mảnh (khoảng ½) viên ma tuý màu hồng mà H4 đang cất giấu mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời.(BL: 48-50;54-57; 110-127; 143-171).
Kết luận giám định:
Ngày 17/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 80/QĐ-ĐCSMT đối với số chất nghi là ma túy đã thu giữ của Nguyễn Hào .
Ngày 23/02/2023, Phòng K Công an tỉnh L có Bản kết luận giám định số: 194/KL- KTHS, kết luận:
- Phong bì 01: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 9,7965g (chín phẩy bảy chín sáu năm gam), loại Ketamine.
Mẫu mười viên nén màu xám (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,8058g (ba phẩy tám không năm tám gam), loại MDMA.
- Phong bì 02: Mẫu năm mươi viên nén màu xám (M3) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 18,6790g (một tám phẩy sáu bảy chín không gam), loại MDMA.
Mẫu tinh thể (M4) đựng trong mười sáu gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 44,6495g (bốn bốn phẩy sáu bốn chín năm gam), loại Ketamine.
- Phong bì 03: Mẫu tinh thể (M5) đựng trong hai gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 99,1633g (chín chín phẩy một sáu ba ba gam), loại Ketamine.
Mẫu một viên nén và một mảnh viên nén màu hồng nhạt (M6) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5890g (không phẩy năm tám chín không gam), loại MDMA.
Mẫu một trăm ba mươi mốt viên nén màu xám (M7) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 49,5661g (bốn chín phẩy năm sáu sáu một gam), loại MDMA.
Tổng khối lượng ma túy là 72,6399 gam loại MDMA và 153,6093 gam loại Ketamine.
MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT: 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT: 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. (BL: 58-63).
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Ngày 17/02/2023, Nguyễn H4 đã cất giấu ma túy trong hộc bệ tỳ tay trong xe ô tô và đang điều khiển xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu TOYOTA-FORTUNER, biển số: 49A-511.37 để đi bán ma túy thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang và tạm giữ số ma túy cùng với chiếc xe ô tô. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô trên là của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980, trú tại: số A, Quốc lộ B, thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (là bố ruột của Nguyễn H4) đang đứng tên chủ sở hữu, do ông quản lý và sử dụng, việc H4 cất giấu ma túy trên chiếc xe ô này và dùng chiếc xe ô tô này để đi bán ma túy thì ông H hoàn toàn không biết, không liên quan gì. Ngày 02/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 40/QĐ-ĐCSMT về việc trả lại xe ô tô trên cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H (BL: 192-204).
Cáo trạng số 25/CT-VKS-P1 ngày 02/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn H4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không thắc mắc khiếu nại gì.
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến giải quyết vụ án: Giữ nguyên bản Cáo trạng, đề nghị xét xử:
Bị cáo Nguyễn H4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn H4 20 (hai mươi) năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy tang vật ma túy và tang vật không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, số máy: MLL73VN/A, gắn sim số 0326751513 của Nguyễn Hào .
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt do Viện kiểm sát truy tố. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo có nhân thân tốt, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Việc Viện kiểm sát đề nghị với mức hình phạt trên là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.
Lời sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo rất hối hận. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội để bị cáo làm lại từ đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tụng tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
Về nội dung: Để có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài cho bản thân, đầu tháng 02/2023 Nguyễn H4 đã liên lạc qua tài khoản Zalo của đối tượng tên “Cu” để mua 50 viên ma túy với giá 8.500.000 đồng. Sau khi mua được số ma túy này H4 đã bán được 48 viên ma túy cho một số người không rõ nhân thân, lai lịch tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng với tổng số tiền bán được là 14.400.000 đồng. Tiếp đến ngày 17/02/2023 H4 tiếp tục liên hệ qua Z hỏi đặt mua của “Cu” khoảng 150 gam ma túy và 200 viên ma túy với số tiền là 124.000.000 đồng, sau khi mua được ma túy H4 đem về phân chia và cất giấu tại chỗ ở của H4 số 1755, quốc lộ B, thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 17 giờ 00 chiều ngày 17/02/2023, khi H4 đang điều khiển xe ô tô biển số 49A-511.37 để đi bán ma tuý cho “Vân” bị Công an thành phố Bảo Lộc kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong 54,4460 gam Ketamine và 22,4848 gam MDMA Hào đang cất giấu trong túi quần jean bên trái của H4 đang mặc và số ma túy H4 đang cất giấu trên xe ô tô Hào đang điều khiển. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của H4 cơ quan Công an còn lập biên bản niêm phong, thu giữ 99,1633 gam Ketamine và 50,1551 gam MDMA. Như vậy, tổng số ma túy khi bắt quả tang và qua khám xét thu giữ của Nguyễn H4 là 72,6399 gam MDMA và 153,6093 gam Ketamine.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết luận giám định khối lượng ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu nhận vật chứng, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Ma túy là loại độc dược, có nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân nảy sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán chất ma túy. Do đó, cần chấp nhận quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo biết sống tuân thủ pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tính chất mức độ hành vi của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Nguyễn H4 khai nhận đã 02 lần mua ma túy với đối tượng tên “Cu” (ở thành phố Hồ Chí Minh), cụ thể: lần thứ nhất là vào đầu tháng 02/2023 với số 8.500.000 đồng được 50 viên ma túy thuốc lắc, H4 đã sử sụng và bán lại cho những người nghiên trên địa bàn thành phố B và còn lại 1,5 viên đã bị Cơ quan Công an thu giữ và được giám định là ma túy có khối lượng là 0,5890 gam loại MDMA; lần thứ hai là vào ngày 17/02/2023 với số tiền là 124.000.000 đồng được 190 viên ma túy loại MDMA và 150 gam ma túy ketamine, đã bị Cơ quan Công an thu giữ và được giám định là ma túy có khối lượng 72,0509 gam loại MDMA và 153,6093 gam loại Ketamine với mục đích bán kiếm lời nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngoài hình phạt chính cũng cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Trong vụ án còn có đối tượng tên “Cu” (ở thành phố Hồ Chí Minh, là người bán ma túy cho H4) quá trình điều tra, H4 khai nhận chỉ biết “Cu” thông qua một người bạn xã hội tên N1 (ở thành phố Hồ Chí Minh) và việc H4 mua bán chỉ liên lạc thông qua Z của C có tên tài khoản là “Anh C” và không rõ về nhân thân, lai lịch, chỗ ở cụ thể, số điện thoại, mạng xã hội. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công ty Cổ phần V1, tuy nhiên do Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin và Cơ quan điều tra không đủ dữ liệu nên Công ty không thể hỗ trợ cung cấp thông tin Zalo của “Cu” có tên tài khoản là “Anh C”. Do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh để xử lý theo đúng quy định.
Đối với đối tượng “Vân” có tài khoản mạng xã hội Zalo của người này tên “Chị V” (là người mua ma túy của H4 tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng). Quá trình điều tra, H4 khai chỉ liên lạc bán ma túy cho “V” qua tài khoản zalo, H4 không cung cấp được đầy đủ thông tin, nhân thân lai lịch, không biết chỗ ở, số điện thoại cụ thể của “V”. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Công ty Cổ phần V1, tuy nhiên do Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin và Cơ quan điều tra không đủ dữ liệu nên Công ty không thể hỗ trợ cung cấp thông tin Zalo của “Cu” có tên tài khoản là “Chị V”. Do vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh để xử lý theo đúng quy định.
Đối với Nguyễn Văn H, Trần Thị H5, Nguyễn H3 (là bố, mẹ và anh ruột của H4) cùng sống tại nhà số A, Quốc lộ B, thôn E, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Khi Cơ quan Công an tiến hành khám xét chỗ ở của H4 và khi làm việc với Cơ quan Công an thì Nguyễn Văn H, Trần Thị H5, Nguyễn Hoàng m biết H4 có hành vi mua bán ma túy. H4 cũng khai nhận thực hiện hành vi phạm tội chỉ có một mình, không có ai khác biết, không ai giúp sức tham gia cùng. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý theo quy định. (BL: 172-180).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý các vật chứng, tài sản trong Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/8/2023 theo quy định pháp luật
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn H4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn H4 20 (hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/02/2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn H4 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng để sung ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy tang vật ma túy và tang vật không còn giá trị sử dụng sau:
- 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng, bên ngoài phong bì có ghi: số 194/2023-PC09, Vụ: N - 2004; HKTT: Thôn E, xã Đ, TP ., Lâm Đồng; QĐTC: 80/QĐ–ĐCSMT; 17/02/2023, Hoàn M1 = 9,6561(g); M2 = 3,0724(g); M3 = 17,5657(g); M4 = 44,5103(g); M5 = 98,9578(g); M7 = 48,0125(g). Có chữ ký ghi họ tên của Võ Như T, Lại Thanh Anh T1, Trần Đình Bảo T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L;
- 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng, bên ngoài phong bì có ghi: số 194/2023-PC09, Vụ: N - 2004; HKTT: Thôn E, xã Đ, TP ., Lâm Đồng; QĐTC: 80/QĐ–ĐCSMT; 17/02/2023, Bao gói Có chữ ký ghi họ tên của Võ Như T, Lại Thanh Anh T1, Trần Đình Bảo T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L.
- 01 (một) túi xách da màu nâu có hoa văn.
- 01 (một) cân tiểu ly điện tử màu nâu.
- 01 (một) va ly nhựa màu xám.
- 01 (một) quần Jean sọoc màu xám có 01 túi trước trái, 01 túi trước phải.
2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu trắng, số máy: MLL73VN/A, gắn sim số 0326751513 được đựng trong 01 (một) bì thư niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn H4, Điều tra viên Phạm Văn C1 và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/8/2023)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Nguyễn H4 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan)./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSNDCC tại Tp HCM (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng PV06 CA Lâm Đồng (01); - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02); - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02); - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Trại tạm giam (01); - Bị cáo (01); - Người bào chữa (01); - Người liên quan (02); - Phòng KTNV&THA (04); - Lưu Tòa Hình sự (05). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Mạnh Hùng |