vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật hình sự;

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về tội danh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Luc Van P - Tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 27-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lợi;

Bà Phan Minh Thi;

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại nhà văn hóa khu 7, thị trấn Na Sầm, huyện

V, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số

44/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 và Quyết định thay đổi

Hội thẩm nhân dân số 11/2023-QĐ-TA ngày 23/6/2023 đối với bị cáo:

Lục Văn P; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 02 tháng 4 năm 1991 tại

tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh

Lạng Sơn; chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm

ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn T (đã chết) và bà Lăng Thị T (sinh năm

1964); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án,

chưa bị xử lý kỷ luật, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ từ ngày

20/3/2023, tạm giam từ ngày 23/3/2023 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn Đ; sinh năm: 1982. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 20/3/2023, Lục Văn P một mình đi từ nhà tại thôn N,

xã V, huyện V ra Quốc lộ 4A bắt xe khách đến xã M, huyện V với mục đích mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu chui thuộc thôn H, xã M, Lục Văn P xuống xe, gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý được 02 gói nhựa màu trắng, bên trong mỗi gói nhựa đều chứa chất bột màu trắng là ma tuý Heroine. Lục Văn P cất gói ma tuý vào túi áo khoác bên phải đang mặc trên người rồi bắt xe khách đi về nhà. Khoảng 20 giờ 15 phút, khi đi đến đầu đường rẽ vào thôn N, Lục Văn P xuống xe, đi vào khu vực bờ suối thuộc thôn N với mục đích tìm chỗ vắng vẻ để sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an huyện Văn Lãng kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 382/KL-KTHS ngày 23/3/2023 của Phòng Kỹ

thuật Hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,128 gam (đã trừ bì).

Tại cơ quan điều tra, anh Hoàng Văn Đ khai được chứng kiến việc bắt người

phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lục Văn P thành khẩn khai nhận

toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 02/6/2023 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lục Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề

nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lục Văn P từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định và các vỏ bao gói. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau

cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã

thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại

cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ

án. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/3/2023, bị cáo Lục Văn P đã có hành vi

tàng trữ trái phép 0,128 gam chất ma túy Heroine với mục đích để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ

độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội,

gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra

các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách

nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy gây ảnh hưởng giống nòi, suy

kiệt kinh tế; nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp

luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lục Văn P phạm

tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249

của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng,

tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong

quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

về hành vi phạm tội; bố đẻ của bị cáo là ông Lục Văn T được Chủ tịch nước

tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình

tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo

được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa

bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn

định, không sở hữu tài sản có giá trị, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên

Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét

thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một

thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận

tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do không xác định được

tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Xét thấy, chất ma túy còn

lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; các vỏ bao gói dùng để

gói ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331,

Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

38; điểm a, c khoản 1 Điều 47; Điều 50 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331;

Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh

Tuyên bố bị cáo Lục Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt

Xử phạt bị cáo Lục Văn P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp

hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/3/2023).

3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư niêm phong ký hiệu bằng chữ viết

tay “QT Lục Văn P” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,119 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ) đã qua giám định.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự

huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/6/2023 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn).

4. Án phí: Bị cáo Lục Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ