vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 17/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Tiến D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lương Tiến D 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Tiến D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Tiến D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 17-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Sang và ông Phạm Hữu Triều.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2023/TLST

- HSST ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lương Tiến D, sinh ngày 31/12/1982 ta ̣i Thái Binh.

̀

Nơi cư trú: Số nhà xy, tổ dân phố số ab, thị trấn Đ, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lương Tiến D (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1951; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Bản án số 10/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt Lương Tiến D 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự, ngày 16/4/2022, D chấp hành xong hình phạt tù, ngày 17/3/2021 chấp hành xong án phí. Tiền sự: không. Nhân thân: Quyết định số 517/QĐ-Ct ngày 27/6/2007 của Chủ tịch UBND huyện Thái Thụy quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với Lương Tiến D, lý do nghiện ma túy, thời gian 12 tháng. D chấp hành xong quyết định ngày 20/9/2008. Quyết định số 2075/QĐ-UBND ngày 11/9/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đối với Lương Tiến D, lý do nhiều lần trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng. D chấp hành xong quyết định năm 2011. Quyết định số 2905/QĐ-UB ngày 12/6/20132 của Chủ tịch UBND huyện Thái Thụy quyết định đưa người nghiện vào trung tâm 05-06 của tỉnh Thái Bình đối với D, lý do nghiện ma túy, thời gian 12 tháng. D chấp hành xong quyết định ngày 23/5/2013. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 09/02/2023 chuyển tạm giam đến nay. Bi ̣ cáo được trich

́ xuất có mă ̣t ta ̣i phiên tòa.

Người bào chữa: Bà Đỗ Thị D1- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình.

Người chứng kiến:

- Ông Hoàng Đình K, sinh năm 1959; Trú tại: Tổ dân phố số xy, thị trấn Đ, huyê ̣n Thái Thụy, tỉnh Thái Binh. (vắng mă ̣t)

̀

- Ông Lê Hợp D, sinh năm 1xy56; Trú tại: Tổ dân phố số 5, thị trấn Đ, huyê ̣n Thái Thụy, tỉnh Thái Binh. (vắng mă ̣t)

̀

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ 10 phút ngày 06/02/2023, Lương Tiến D đi bộ từ nhà ở tổ dân phố số xy, thị trấn Đ, huyện Thái Thụy ra bến cá Tân Sơn thuộc tổ dân phố số xy, thị trấn Đ, huyện Thái Thụy tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 02 gói ma túy đựng trong 01 túi nilon trong suốt có mép cài với giá 400.000 đồng, D bỏ túi ma túy vào trong túi quần phía sau bên phải D đang mặc rồi đi bộ để về nhà. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, khi D đang đi bộ ở đường đê thuộc địa phận tổ dân phố số xy, thị trấn Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Thái Thụy phối hợp với Công an thị trấn Đ nghi D có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Tại đây trước sự chứng kiến của ông Lê Hợp D và ông Hoàng Đình K, D tự giác lấy trong túi quần phía sau bên phải đang mặc ra 01 túi nolon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, chứa hai gói tráng kim loại màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu tráng dạng cục, D khai đó là ma túy D vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người D nhưng không phát hiện, thu giữ gì và đưa D cùng vật chứng, mời những người chứng kiến về trụ sở Công an thị trấn Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D không quản lý và thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1372 gam (Heroin STT: 0xy Danh mục AI, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022)”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 49/CT-VKSTT ngày 25/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Lương Tiến D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lương Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Người bào chữa nhất trí về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận đối với đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Thái Thụy lập hồi 15 giờ 45 phút ngày 06/02/2023 (bút lục số 35-36); Bản kết luận giám định số 141/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 43), lời khai của những người chứng kiến là ông Hoàng Đình K và ông Lê Hợp D (bút lục 86-93). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 15 giờ 30 phút ngày 06/02/2023, tại đường đê thuộc tổ dân phố số xy, thị trấn Đ, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Lương Tiến D đã có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên phải 02 gói Heroine có khối lượng 0,1372 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Thái Thụy phối hợp với Công an thị trấn Đ bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lương Tiến D đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000

đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo Lương Tiến D là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo là ngườ i có nhân thân xấu, đã bị xét xử 01 lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, một lần bị đưa vào cơ sở giáo dục vì hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên bi ̣ cáo không lấy đó làm bài ho ̣c, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo có 01 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhe ̣ mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo là phù hợp vớ i chinh sách

̀

́ khoan hồng của Nhà nướ c ta, ta ̣o điều kiê ̣n để cải ta ̣o, giáo du ̣c bi ̣ cáo sớ m trở thành ngườ i có ich cho xa hô ̣̃ i. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

́ vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt, bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng và thuộc diện hộ cận nghèo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, có đơn xin miến án phí nên cần miễn cho bị cáo án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Tiến D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lương Tiến D 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/02/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,1048 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lương Tiến D hoàn trả sau giám định trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 141/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2023.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 12, 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủ y ban Thương vu ̣ Quốc

̀ hô ̣i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn cho bị cáo Lương Tiến D 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Tiến D có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/5/2023.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Hà TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THÁI THỤY

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH THÁI BÌNH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 17 tháng 5 năm 2023.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Ngô Văn Sang và ông Phạm Hữu Triều.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2023/TLST - HSST ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lương Tiến D, sinh ngày 31/12/1xy82; Nơi cư trú: Số nhà 116, tổ dân phố số xy, thị trấn Đ, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào các Điều 2xyxy và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

2. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm tra viên thu thập là hợp pháp, khách quan.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

3. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

4. Về tội danh: Có căn cứ để kết tội bị cáo Lương Tiến D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 24xy Bộ luật hình sự.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

5. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 24xy; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Lương Tiến D 01 năm 0xy tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06.02.2023.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

6. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1048 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lương Tiến D hoàn trả sau giám định trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 141/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

7. Về án phí: Áp dụng Điều 12, 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủ y ban Thương vu ̣ Quốc

̀ hô ̣i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Miễn cho bị cáo Lương Tiến D 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

8. Áp dụng Điều 32xy Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Tiến D trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

xy. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Tiến D có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/5/2023.

- Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 17 tháng 5 năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Hà

Cỡ chữ