- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng Đ và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T đã phạm tội “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HS-ST Ngày: 01/8/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Pên toà: Ông Quàng Văn Xôm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Lý A Giàng.
2. Ông: Tòng Văn Thanh.
Thư ký Pên tòa: Bà Chu Thị Chức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên tham gia Pên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 01/8/2023 tại phòng xử án Tòa án nhân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên mở Pên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/HSST ngày 04/7/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2023/HSST- QĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Hoàng Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991, tại thành phố Đ, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Bản H, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Trần Văn Đ và con bà: Hoàng Thị H; Vợ: Phạm Thơm T; Bị cáo chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/4/2023, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi đánh bạc và bị tạm giữ, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
2. Họ và tên: Hà Ngọc K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991, tại thành phố Đ, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Tổ 21, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Hà Văn B và con bà: Phạm Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Thu D; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021, Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/4/2023, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi đánh bạc và bị tạm giữ, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
3. Họ và tên: Đặng Minh D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991, tại thành phố Đ, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Tổ 05, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông: Đặng Đình T và con bà: Phạm Thị S; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 30/4/2023, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi đánh bạc và bị tạm giữ, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
4. Họ và tên: Bùi Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1974, tại huyện M, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đn; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/10; con ông: Bùi Văn Đ và con bà: Bùi Thị L; Vợ: Sìn Thị P; Bị cáo chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số: 115/HSST, ngày 29/5/2003, Toà án nhân tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) tuyên phạt 16 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý, bản án bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số: 1345/PTHS, ngày 15/9/2003, của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội, xử y án sơ thẩm 16 năm tù đối với bị cáo về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý. Ngày 07/9/2014 chấp hành xong bản án trở về địa phương sinh sống làm ăn cho đến nay, đã xoá án tích. Ngày 30/4/2023, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi đánh bạc và bị tạm giữ, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
5. Họ và tên: Vũ Anh T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1988, tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn Thanh Hoà, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông: Vũ Quý Lâm và con bà: Trần Thị Phương; Vợ: Đào Thị Quyên; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/4/2023, bị Công an huyện Mường Chà bắt quả tang về hành vi đánh bạc và bị tạm giữ, đến ngày 09/5/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
Những người làm chứng:
+ Anh Trần Hoàng S; Sinh năm: 2001; Địa chỉ: Bản H, phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ, có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Thu D; Sinh năm: 1995; Địa chỉ: Thôn 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, tại nhà trọ do Vũ Anh T thuê ở số nhà 04, tổ dân phố 9, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, khi Đặng Minh D, Hà Ngọc K, Trần Hoàng Đ ngồi nói chuyện thì ba người rủ nhau đánh bài ăn tiền. Đ nhờ em trai là Trần Hoàng Sơn đi mua giúp một bộ bài tú lơ khơ. Sau khi mua được bài Sơn đưa cho Đ rồi đi ra ngoài uống nước còn D, Đ, K đi vào phòng số hai của ngôi nhà và ngồi trên giường cùng nhau chơi đánh bài được thua bằng tiền, hình thức chơi “Liêng”.
Cách chơi “Liêng” như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A đến K với các chất Cơ, Rô, Tép, Bích, sau đó chọn một người bất kỳ để chia bài, mỗi ván mỗi người chơi chỉ đặt 50.000 đồng vào chung một chỗ, không cá cược riêng từng người và được chia 03 quân bài. Từng người chơi sẽ tính điểm và so sánh với điểm của những người chơi còn lại. Quy định như sau: lớn nhất là “Sáp” tức là 03 quân bài giống nhau cùng số, nhưng khác chất, nếu nhiều người cùng có bài “Sáp” thì “Sáp” to sẽ thắng “Sáp” nhỏ. Sau “Sáp” bài lớn thứ hai là “Liêng”, tức là 03 quân bài liên tiếp nhau, có thể cùng chất hoặc không cùng chất, nếu nhiều người cùng có “Liêng” thì “Liêng” to thắng “Liêng” nhỏ. To nhất là Q, K, A còn nhỏ nhất là 1, 2, 3. Nếu không có “Sáp” hoặc “Liêng” thì sẽ tính điểm, cộng tổng điểm của ba quân bài, tính đến 9 là to nhất, từ quân 10 đến quân K tính là 0 điểm, quân A tính 01 điểm, từ quân 2 đến quân 9 thì điểm tương ứng ghi trên lá bài, bài nào to điểm thì thắng. Nếu những người chơi cùng điểm thì so sánh về chất theo thứ tự ưu tiên là Rô, Cơ, Tép, Bích. Bài của ai có điểm cao nhất thì người đó sẽ thắng và được thu hết số tiền đã đặt chung và có quyền chia bài ván tiếp theo. Khi Đ, D, K chơi được khoảng ba đến bốn ván thì Bùi Văn P đến thì Đ đã rủ P vào chơi cùng và mọi người chuyển sang đánh “Ba cây”. Đang chơi được khoảng hai đến ba ván, Vũ Anh T ngủ dậy thì Đ rủ T vào chơi cùng. Năm người tham gia đánh bạc ngồi theo vị trí tính từ cửa ra vào và theo chiều kim đồng hồ lần lượt như sau: Vũ Anh T, Bùi Văn P, Trần Hoàng Đ, Đặng Minh D, Hà Ngọc K. Thời điểm Bùi Văn P đến thì Trần Hoàng Sơn và Nguyễn Thị Thu Dung vào ngồi xem mọi người đánh bạc.
Cách đánh “Ba cây” như sau: 52 quân bài của bộ bài tú lơ khơ lọc bỏ 16 quân bài của các quân 10, J, Q, K các chất Rô, Cơ, Tép, Bích và chỉ giữ lại 36 quân bài từ A đến 9. Trong mỗi ván bài sẽ có một người cầm chương, mỗi người chơi chỉ đặt số tiền 50.000 đồng, không cá cược riêng từng người và được chia cho ba quân bài sau đó tính điểm so với người cầm chương. Cách tính như sau: quân A được tính là một điểm, các quân bài từ 2 đến 9 thì tính điểm tương ứng với số ghi trên quân bài; nếu tổng điểm của ba quân bài nhỏ hơn hoặc bằng 10 thì lấy nguyên số điểm của bài, nếu tổng điểm của ba quân bài lớn hơn 10 hoặc lớn hơn 20 thì điểm của bài là hàng đơn vị; nếu tổng điểm của ba quân bài là 20 điểm thì sẽ tính là 10 điểm. Sau khi tính điểm thì những người chơi so điểm với người cầm chương để tính thắng, thua; ai cao điểm hơn người cầm chương sẽ thắng, nếu bằng điểm với người cầm chương thì sẽ tính bài theo chất theo thứ tự ưu tiên là Rô, Cơ, Tép, Bích. Người thắng được người cầm chương trả bằng số tiền đã đặt cược, còn thua thì người cầm chương được hưởng số tiền mà người chơi đã đặt cược trước đó. Người nào được 10 điểm sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Số tiền của mỗi người sử dụng khi tham gia chơi đánh bạc là: T 1.100.000 đồng, K 3.300.000 đồng, D 3.000.000 đồng, P 1.650.000 đồng, Đ 3.300.000 đồng. Đến 16 giờ 30 cùng ngày khi Đ, T, D, K, P đang ngồi đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Chà phát hiện bắt quả tang, thu tại chiếu bạc số tiền 12.350.000 đồng và 36 quân bài tú lơ khơ từ A đến 9 mà mọi người sử dụng để đánh bạc, đồng thời thu trên mặt bàn gần giường 16 quân bài tú lơ khơ từ 10, J, Q, K và thu của mỗi người 01 chiếc điện thoại di động kèm theo sim.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: Số tiền 12.350.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Reamle, màu xanh; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu đen; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphon 8Plus, màu đỏ; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu vàng gôn; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi, màu trắng.
Trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà đã trả lại cho Vũ Anh T 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu đen; Hà Ngọc K 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphon 8Plus, màu đỏ; Đặng Minh D 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi, màu trắng, là những chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản cáo trạng: 32/CT-VKSMC ngày 03/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên: Truy tố các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T về tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 điều 321/BLHS.
Kết thúc phần xét hỏi, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại Pên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Đ từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Hà Ngọc K từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Đặng Minh D từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Vũ Anh T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 07 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 17, Điều 58/BLHS; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, phường, nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã, thị trấn, phường, giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Các bị cáo đều là người không nghề nghiệp, kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áo dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321/BLHS; Đề nghị miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36/Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ; 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu.Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 12.350.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Bùi Văn P 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Reamle, màu xanh; Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng Đ 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu vàng gôn.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Những người làm chứng Nguyễn Thị Thu Dung và Trần Hoàng Sơn có mặt tại Pên tòa, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra.
Đối với Nguyễn Thị Thu Dung là vợ của bị cáo Hà Ngọc K và Trần Hoàng Sơn là em trai ruột của bị cáo Trần Hoàng Đ, chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, ngoài ra Trần Hoàng Sơn được Trần Hoàng Đ nhờ đi mua bộ bài tú lơ khơ nhưng Sơn không biết Đ cùng mọi người sẽ đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, đến khi Sơn vào xem mới biết nên không xem xét xử lý đối với Dung và Sơn.
Ngôi nhà mà các bị cáo sử dụng làm địa điểm để đánh bạc là nhà của chị Nguyễn Thị Hiền cho Vũ Anh T thuê để ở, nhưng chị Hiền không biết các bị cáo đánh bạc trong nhà, nên không xem xét xử lý đối với chị Hiền.
Sau khi nghe lời luận tội của Đ diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Đ diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Xét về hành vi của các bị cáo: Thông qua tranh tụng và xét hỏi tại Pên tòa bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại Pên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 30/4/2023, tại Tổ dân phố 09, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc; Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, của Công an huyện Mường Chà; lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu cụ thể: Khoảng từ 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, tại số nhà 04, tổ dân phố 9, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P, Vũ Anh T thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với các hình thức đánh Liêng và Ba cây, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 12.350.000 đồng.
. Xét hành vi đánh bạc của các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Mường Chà nói chung, thị trấn Mường Chà nói riêng. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào đều vi phạm pháp luật, thế nhưng do ham chơi, ham lời các bị cáo vẫn cố ý thực hiện với hình thức chơi Liêng, Ba cây. Dụng cụ gồm có 52 quân bài tú lơ khơ từ A đến 9 và từ 10, J, Q, K sát phạt lẫn nhau được thua bằng tiền. Với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.350.000 đồng, (trong đó: Trần Hoàng Đ 3.300.000 đồng, Hà Ngọc K 3.300.000 đồng, Đặng Minh D 3000.000 đồng, Bùi Văn P 1.650.000 đồng, Vũ Anh T 1.100.000 đồng). Vậy, với hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T đã phạm vào tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321/BLHS.
Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, truy tố các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại 1 Điều 321/BLHS, là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Bị cáo Trần Hoàng Đ từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng ăn học hết 12/12. Năm 2022 xây dựng gia đình với chị Phạm Thơm Thanh và làm ăn tại bản Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Bị cáo Đặng Minh D từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng cho ăn học hết 9/12, sau đó ở nhà phụ giúp gia đình, lao động sản xuất đến nay.
Bị cáo Hà Ngọc K từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng ăn học hết 12/12. Năm 2018 xây dựng gia đình vời chị Nguyễn Thị Thu Dung và làm ăn sinh sống tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đến nay.
Bị cáo Vũ Anh T từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng ăn học hết 12/12. Năm 2011 xây dựng gia đình với chị Đào Thị Quyên. Năm 2015 chuyển lên tỉnh Điện Biên và làm ăn sinh sống tại xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đến nay.
Bị cáo Bùi Văn P sinh ra được bố mẹ nuôi dưỡng ăn học hết 8/10 thì bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 2003, bị Toà án xét xử và tuyên phạt 16 năm tù về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, ngày 07/9/2014 chấp hành xong án phạt tù và đã được xóa án tích, sau đó về làm ăn sinh sống tại thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đến nay.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại Pên tòa các bị cáo Đ, K, D, P, T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; các bị cáo Đ, K, D, T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Đ, K, D, T có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P có tình tiết giảm nhẹ trách niệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải những lỗi lầm của bản thân. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Xét đây là vụ án có đồng phạm, cả 05 bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P, Vũ Anh T đều là người thực hành, trong đó bị cáo Trần Hoàng Đ giữ vai trò chủ động, tích cực khi thực hiện hành vi phạm tội.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần áp dụng mức khởi điểm Đ diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp. Các bị cáo đều không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử xét miễn không áp dụng khấu trừ một phần thu nhập của các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự.
. Xét về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người không nghề nghiệp, kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
. Xét về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS:
- 52 quân bài tú lơ khơ, 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 12.350.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu vàng gôn là tài sản của bị cáo Bùi Văn P; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Reamle, màu xanh, là tài sản của bị cáo Trần Hoàng Đ, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với tài sản là điện thoại mà cơ quan điều tra tạm thu nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
.Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Đối với Nguyễn Thị Thu Dung là vợ của bị cáo Hà Ngọc K và Trần Hoàng Sơn là em trai ruột của bị cáo Trần Hoàng Đ, chỉ ngồi xem các bị cáo đánh bạc, ngoài ra Trần Hoàng Sơn được Trần Hoàng Đ nhờ đi mua bộ bài tú lơ khơ nhưng Sơn không biết Đ cùng mọi người sẽ đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, đến khi Sơn vào xem mới biết nên không xem xét xử lý đối với Dung và Sơn.
Ngôi nhà mà các bị cáo sử dụng làm địa điểm để đánh bạc là nhà của chị Nguyễn Thị Hiền cho Vũ Anh T thuê để ở, nhưng chị Hiền không biết các bị cáo đánh bạc trong nhà, nên HĐXX không xem xét xử lý đối với chị Hiền.
. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Chà, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại Pên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D, Bùi Văn P và Vũ Anh T đã phạm tội “ Đánh bạc”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành là 01(một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 06/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đối với Trần Hoàng Đ.
- Xử phạt bị cáo Hà Ngọc K 01(một) năm 04 (bốn) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đối với Hà Ngọc K.
- Xử phạt bị cáo Đặng Minh D 01(một) năm 04 (bốn) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 08/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đối với Đặng Minh D.
Giao các bị cáo Trần Hoàng Đ, Hà Ngọc K, Đặng Minh D cho Ủy ban nhân dân phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh Đ, giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Đ, tỉnh Đ nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành là 01(một) năm 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đối với Vũ Anh T.
Giao bị cáo Vũ Anh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đ, giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đ, giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 36, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ cho bị cáo 09 ngày đã bị tạm giữ (từ ngày 30 tháng 4 năm 2023 đến ngày 09 tháng 5 năm 2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành là 01(một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 04 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, đối với Bùi Văn P.
Giao bị cáo Bùi Văn P cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ, giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên, giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án.
Trường hợp các bị cáo Đ, K, D, P, T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án các bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) đối với các bị cáo theo quy tại khoản 3 Điều 321/Bộ luật Hình sự; Miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36/Bộ luật Hình sự.
3. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 02 (hai) phong bì niêm phong ban đầu.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 12.350.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Bùi Văn P 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu SamSung, màu vàng gôn;
- Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng Đ 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Reamle, màu xanh.
(Toàn bộ vật chứng và các tài sản nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 00 phút, ngày 04/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).
4. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
*Áp dụng Điều 331 và 333/BLTTHS, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/8/2023).
| Nơi nhận: - VKSND huyện M; - Phòng KTNV – THA TAND tỉnh; - Phòng 07 VKSND tỉnh Đ; - Phòng PC 10-CA tỉnh Đ; - Sở tư pháp tỉnh Đ; - Công an huyện M; - UBND phường Him Lam, UB xã T, UBND thị trấn M/ thay thông báo; - Các bị cáo; - Chi cục THADS M; - Bộ phận QLHSNV-CAHMC; - Lưu hồ sơ; Hồ sơ thi hành án; Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa Quàng Văn Xôm |