vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 14/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Trần Văn Mỳ

2. Ông: Phạm Xuân Khoa

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường nhà văn hóa UBND xã Cù Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm lưu động vụ án Hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST - HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Đ, sinh ngày 02/9/1976;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 7, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng;

Con ông: Trần Văn D (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1940.

Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 06.

Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1983; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).

*. Người chứng kiến:

Bà Đoàn Thị D1, sinh năm 1960 (Vắng mặt).

Trú quán: xóm 11, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 21/12/2022, tổ công tác Công an xã C, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực xóm 11, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện có 01 đối tượng nam giới có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính thì người nam giới lấy ra từ túi áo khoác bên trái đang mặc 01 gói nhỏ gói bằng giấy màu bạc, bên ngoài cùng được gói bằng túi nilon không màu vứt xuống đường dân sinh, sau đó người đàn ông khai họ tên là Trần Văn Đ và thừa nhận gói nilon vừa ném xuống đường bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine của Đ cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân, Đ tự giác nhặt gói chất ma túy lên giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ, thu giữ vật chứng (niêm phong vào phong bì ký hiệu Đ).

Xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã C đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo quy định.

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 21/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Trần Văn Đ. Kết quả khám xét không thu giữ gì.

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 21/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn Đ, kết quả: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu Đ có khối lượng: 0,273 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu Đ1 gửi giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì Đ niêm phong vào phong bì ký hiệu Đ2.

Tại Bản kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 29/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,273 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Đ khai nhận như sau: Bản thân Đ là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 20/12/2022, Đ một mình đi xuống khu vực đường tròn T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ngồi uống nước tại quán ven đường chơi. Tại đây Đ gặp và nói chuyện với 01 người đàn ông (không rõ lai lịch). Qúa trình nói chuyện, Đ nói cho người này biết mình bị tai nạn lao động nên hay đau ốm phải sử dụng Heroine để giảm đau, Đ hỏi xin Heroine của người đàn ông này để sử dụng thì người đàn ông đưa cho Đ 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy màu bạc, bên ngoài được gói bằng túi nilon không màu. Sau khi nhận được gói ma túy, Đ cất giấu vào túi áo khoác bên trái Đ đang mặc rồi đi về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 21/12/2022, Đ đi tìm nơi để sử dụng gói ma túy đang cất giấu trong người, khi đến khu vực đường dân sinh thuộc xóm 11, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Công an xã C phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng vụ án gồm: 02 bì niêm phong ký hiệu Đ1, Đ2

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 40/ CT-VKSĐT ngày 14/3/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu Đ1, Đ2

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

. Về căn cứ buộc tội:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Đ khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 21/12/2022 tại xóm 11, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam (không phẩy hai bảy ba gam) chất ma túy (loại Heroine), mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã C, huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận của Trần Văn Đ phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định.

Như vậy hành vi tàng trữ 0,273 gam Heroine của Trần Văn Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm vào mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…..

c) Heroine….. có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.

. Xét tính chất hành vi:

Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay người nhà bị cáo đã nộp cho Hội đồng xét xử 01 huân chương kháng chiến hạng 3 của ông Trần Văn D là bố đẻ của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến nên bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma tuý, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.

. Về hình phạt:

Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo Đ mức án từ 18 đến 24 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu Đ1, Đ2

. Về nguồn gốc số Heroine, Đ khai xin của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực đường tròn T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ không có căn cứ xem xét xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Quyết định tạm giam bị cáo Trần Văn Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu Đ1, Đ2.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 37/QĐ-VKSĐT ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ